Gã trai bao của nàng công chúa hiệp sĩ Vol 1 chương 2
The Kept Man of the Princess Knight - Himekishi-sama no Himo 姫騎士様のヒモ
Chương 2 - Gã trai bao không về nhà trước khi trời sáng
Bởi vì tôi sống cùng với Công Chúa hiệp Sĩ, cả thế giới dường như đều nghĩ tôi là một gã ăn chơi hào hoa.
Có lẽ vì lý do đó mà tôi thường xuyên được hỏi xin lời khuyên tình cảm. “Làm sao để tán tỉnh nàng lên giường?” hoặc “Tôi nên làm gì khi gã đàn ông của tôi ngoại tình?”
Tôi đoán yêu cầu của Vanessa cũng thuộc dạng này.
“Dạo gần đây Sterling có vẻ kỳ lạ lắm,” cô ấy nói với vẻ u sầu.
Hiện tại, tôi đang ở trong văn phòng giám định, một tòa nhà riêng biệt của Hội Mạo Hiểm Giả, nằm cạnh cửa hàng tạp hóa. Một bức tường đá chia đôi căn phòng, kéo dài từ trái sang phải. Bên trái có một cánh cửa nhỏ, nhưng nó bị khóa và chỉ có thể mở từ phía bên kia. Ở giữa bức tường là một quầy giao dịch với một cửa sổ kính mờ và một khe hatch có thể kéo xuống để đặt vật phẩm vào. Các mạo hiểm giả sẽ đặt những món đồ họ muốn giám định vào đó, từ đó giám định viên ở bên trong có thể lấy ra xem xét.
Vanessa là giám định viên của Hội Mạo Hiểm Giả.
Hội thu mua những vật phẩm hiếm và đồ quý như thảo dược, da quái vật, vảy rồng hay xương và sau đó bán lại cho thợ thủ công, quý tộc hoặc nhà sưu tầm.
Nhưng không phải thứ gì mang đến hội cũng là hàng thật. Những kẻ ngu ngốc sẽ đem xương gà đến rồi khăng khăng rằng đó là xương rồng. Những kẻ tinh ranh hơn có thể bôi bẩn một món đồ một chút để trông giống hàng hiếm hơn. Và ngay cả khi không có ý lừa đảo, người ta vẫn rất dễ nhầm lẫn giữa một nhánh cây bả chó với một loài hoa huyền thoại, nếu không có kiến thức giám định.
Chính các giám định viên là những người phải xác định các món đồ mà đám lập dị cố bán cho hội. Để nhìn thấu những vật phẩm giả mạo có nguồn gốc sinh học được cho là từ quái vật, người ta cần có một lượng kiến thức khổng lồ, đôi mắt tinh tường để phân biệt thật giả, và vô số kinh nghiệm thực tế. Trong những ngày còn là mạo hiểm giả, ta từng ghé qua nhiều hội khác nhau, và bất cứ nơi nào không có giám định viên giỏi đều sớm muộn cũng sụp đổ. Theo một nghĩa nào đó, đây là công việc quan trọng nhất trong bất kỳ Hội Mạo Hiểm Giả nào.
Vanessa là một chuyên gia hàng đầu. Theo như tôi được kể, cô ấy là con gái của một thương nhân buôn tranh và đã có con mắt tinh tường từ thuở nhỏ. Đến năm mười bảy tuổi, công việc kinh doanh của gia đình nàng lao dốc, nhà tan cửa nát, và cô tìm được việc làm tại hội.
Cô ấy đặc biệt sắc sảo trong một hội mà phần lớn nhân viên đều là mạo hiểm giả được thăng chức, toàn những kẻ đầu đất. Đôi mắt cô mang sắc nâu hạt dẻ, mái tóc nâu đỏ được buộc gọn thành một chiếc đuôi ngựa ngang cổ. Dù trông có vẻ mệt mỏi, làn da nàng vẫn mịn màng. Tôi không biết xã hội nhìn cô nàng ra sao, nhưng trong mắt tôi, cô ấy hẳn là một mỹ nhân.
Tôi gặp cô ấy khi đến hội để năn nỉ Dez cho vay tiền, và khác với những kẻ khác, cô nàng đối xử với tôi như một con người bình thường. Trong hội, chỉ có Dez, April và Vanessa là chịu trò chuyện với tôi.
Những lúc rảnh rỗi, tôi hay quan sát cô làm việc từ xa, và thực sự rất ấn tượng. Người ta có thể đưa cô một đống thảo dược hỗn độn, và cô ấy sẽ ngay lập tức chọn ra thứ duy nhất có giá trị. Có thể nói, cọ nàng chính là người đang gánh vác hội này. Vẫn còn những giám định viên khác, nhưng chỉ có Vanessa là có hẳn một văn phòng riêng.
“Khi nào thì Sterling không kỳ lạ chứ?” tôi lạnh lùng nhận xét, tựa lưng vào ghế. “Hắn lại bảo với cô là có một con quái vật xúc tu bò lên từ biển tím nữa chứ gì? Hắn bệnh rồi, Vanessa. Hắn đã làm hỏng não hoặc mắt mình vì rượu. Có khi là cả hai. Cô nên đưa hắn đến gặp thầy thuốc đi.”
“Không, không phải vậy đâu. Anh không hiểu rồi,” cô nàng phản đối. “Anh ấy chỉ đang thể hiện những suy nghĩ nội tâm của mình dưới dạng trừu tượng thôi. Đó là một phương pháp nghệ thuật phổ biến ở Taurimna từ hai thế kỷ trước. Sterling là người rất uyên bác đấy.”
“Hắn là một thằng khốn, như tất cả những gã đàn ông khác mà cô từng cặp kè.”
Dù sở hữu nhan sắc và tài năng, Vanessa có một khiếm khuyết cực kỳ nghiêm trọng: cô nàng hoàn toàn không có mắt nhìn đàn ông. Đúng là thảm họa.
Hai năm đã trôi qua kể từ khi tôi trôi dạt đến thành phố này, và trong quãng thời gian đó, cô nàng đã lần lượt qua lại với hết người đàn ông này đến kẻ khác. Tất cả bọn họ đều là cặn bã, kẻ thất bại hoặc những kẻ vô tích sự.
Watkin thích uống rượu và bắt nạt kẻ yếu, mà khi đã say xỉn đủ mức, hắn còn đánh cả trẻ con. Một ngày nọ, hắn lỡ tay đánh nhầm con trai của một tên xã hội đen, và rồi hắn biến mất không tăm tích. Tiny thì nghiện chọi gà, đến mức lấy trộm tiền bạc và trang sức trong nhà Vanessa để nuôi máu cờ bạc. Hắn thậm chí còn cố gắng trộm cả hàng hóa đã được Hội Mạo Hiểm Giả giám định, và kết cục là bị chặt tay. Olaf thì lúc nào cũng lăng nhăng với hàng tá phụ nữ cùng lúc, cho đến khi mắc bệnh rồi chết thảm. Oscar thì buôn ma túy, nhưng đúng vào lúc định biển thủ hàng của bọn giang hồ, hắn cũng biến mất như chưa từng tồn tại.
Người tình hiện tại của cô, Sterling, là một nghệ sĩ trẻ hơn nàng hai tuổi. Hắn có vẻ ngoài thanh mảnh, ưa nhìn, nhưng chẳng có chút tài năng nghệ thuật nào. Ngay cả tôi, một kẻ mù tịt về hội họa, cũng có thể nhận ra hắn chẳng có tí năng khiếu nào. Đã vậy, hắn còn luôn viện cớ tâm trạng không tốt hay cánh tay đau nhức để trốn tránh vẽ vời.
Mà nói đi cũng phải nói lại, tôi không phải là người có tư cách nhất để đánh giá, nhưng cô nàng thực sự cần kén chọn đàn ông hơn.
Dẫu vậy, cũng phải nhờ một người phụ nữ như cô thì tôi mới có bạn nhậu thường xuyên, thậm chí đôi khi còn vay được ít tiền. Cô ấy chính là vị cứu tinh của tôi. Cái gã thần mặt trời kia còn vô dụng hơn cả giấy chùi đít, nhưng nếu cần, tôi sẵn sàng cạo đầu và tôn thờ cô nàng như một vị thần. Điện Hạ là người vô cùng rộng lượng và chẳng bao giờ phán xét ai, nên hẳn sẽ chẳng có ý kiến gì về lựa chọn tín ngưỡng của tôi.
“Vậy, rốt cuộc vấn đề là gì? Nhưng nhớ là tôi không thể đưa ra lời khuyên nào không liên quan đến chuyện giường chiếu đâu đấy.”
Tôi còn bận phục vụ Điện Hạ. Nếu đã phải chia quỹ thời gian ít ỏi của mình cho một người khác, thì chắc chắn tôi không làm không công. Và phí tư vấn sẽ được thanh toán trước. Với những phụ nữ xinh đẹp như Vanessa, tôi sẵn lòng chấp nhận các hình thức thanh toán khác ngoài tiền mặt, nhưng đáng tiếc, cô nàng lúc nào cũng trả tiền đầy đủ. Có vẻ như tôi vẫn chưa đủ tầm với tới cô ấy. Đúng là đáng tiếc.
“Về chuyện tình cảm, tôi chỉ có hai lời khuyên: Cứ liều hết mình, và thuận theo số phận.”
Vanessa thở dài và đưa tay xoa thái dương. “Gần đây, Sterling hào phóng quá mức. Hắn mua những thứ mà với số tiền ta đưa hằng tháng, hắn chắc chắn không thể có được.”
“Có lẽ hắn tìm được một nhà bảo trợ nghệ thuật nào đó.”
“Nhưng hắn có bán được bức tranh nào đâu.”
Tôi sững người khi nghe vậy. Nàng có thể phân biệt được mớ lem nhem đó đến mức nhận ra từng bức tranh riêng lẻ sao?
“Hơn nữa, theo lời hàng xóm của tôi, có một gã lạ mặt cứ ra vào xưởng vẽ của hắn.”
“À, kiểu ‘Only fan’ đó hả.” Một gã đàn ông tinh tế, mảnh khảnh như hắn thì đương nhiên sẽ có vài người chịu chi rồi.
“Không, không phải thế,” cô nàng nói, giọng thoáng khó chịu. “Tôi đã kiểm tra rồi, nhưng không có dấu hiệu gì của chuyện đó cả.”
Tôi cũng chẳng định hỏi cô nàng đã kiểm tra bằng cách nào.
“Tóm lại, cô nghĩ Sterling đang kiếm tiền bằng cách nào đó mà không phải bán thân, và cô muốn tôi tìm ra sự thật.”
“Làm ơn đi, Matthew,” cô ấy chắp tay như đang cầu nguyện. “Anh là người duy nhất tôi có thể nhờ cậy chuyện này. Tôi chắc chắn nếu tôi hỏi, hắn sẽ không chịu nói, mà anh thì cũng hiểu rõ Sterling đôi chút.”
“Được rồi, tôi lo chuyện này.”
Vanessa giúp đỡ ta gần như mỗi ngày. Chạy một việc vặt như thế này chỉ là chút đền đáp nhỏ nhoi mà thôi.
“Vậy cô sẽ xóa bao nhiêu nợ cho tôi đây?”
“Trước mắt, tôi sẽ đợi đến tháng sau mới thu.” Cô ấy đáp, chẳng thèm mỉm cười. Tôi thở dài rồi đứng dậy.
“Thôi được, tôi đi xem thử.”
“Khoan đã,” cô ấy gọi giật lại đúng lúc tôi sắp rời khỏi văn phòng. “Anh có tin tức gì của Polly không?”
Cả người tôi cứng đờ, rồi lắc đầu. “Một tin đồn còn chẳng có, chứ đừng nói là thư từ.”
“Vậy à.” Khuôn mặt Vanessa thoáng vẻ u sầu. “Không biết bây giờ con bé đang ở đâu. Kể cả những lúc tệ hại nhất, nó cũng chưa từng bỏ lỡ dịp về viếng mộ mẹ.”
“Nếu nó vẫn ổn, thì lúc này quay về cũng khó lắm. Không ai muốn dính dáng gì tới nó nữa đâu.”
Những nạn nhân thì đã rời khỏi thành phố, nhưng ngay cả sau một năm, vết nhơ trên danh tiếng của cô ta vẫn còn đó.
“Giờ này không biết nó đang ở đâu nhỉ? Tôi không tin là nó lại rời đi mà chẳng nói gì với anh.”
“Cô ta đã bỏ tôi rồi” tôi nhún vai. “Tất cả là lỗi của tôi. Hồi đó, tôi đã không nghiêm túc để ý đến Polly.”
Vanessa thở dài và nói: “Cô ấy không phải người xấu, chỉ là yếu đuối thôi. Polly quá nhút nhát và dễ bị người khác tác động.”
“Ai cũng vậy mà. Kể cả tôi và cô.”
Trước đây, tôi từng nghĩ mình là một người đặc biệt và độc nhất. Nhưng thực tế không phải vậy. Nếu không có sức mạnh phi thường, tôi cũng chẳng khác gì một kẻ tầm thường, thậm chí có khi còn tệ hơn.
“Còn cô thì sao?” Tôi hỏi. “Có nghe tin tức gì không? Hai người khá thân mà.”
“Không.” Vanessa đáp, vẻ u buồn trên gương mặt nàng càng khiến nàng thêm phần quyến rũ. “Dạo này tôi cứ tự hỏi liệu mình có thể làm gì để giúp cô ấy không.”
“Đừng tự trách mình,” tôi cố gắng an ủi. “Nói ra thì hơi tàn nhẫn, nhưng đó là lỗi của Polly. Tốt bụng là một chuyện, nhưng ôm đồm quá nhiều thì chẳng bao giờ có kết cục tốt cả.”
“Anh nói đúng.” Vanessa đưa tay che miệng, khẽ sụt sịt. “Nếu cô ấy quay về, đừng trách cô ấy… Mà thôi, có lẽ tôi không nên nói với anh về chuyện này.”
“Đừng lo. Điện Hạ là người rất bao dung. Ngài ấy không phải kiểu người sẽ tức giận vì những chuyện tình cũ.”
.
-----
.
Khu trọ của Sterling nằm ở phía nam thành phố, trong một khu gọi là Hẻm Họa Sĩ. Đây là nơi tụ tập của một đám tự xưng là nghệ sĩ nhưng thực chất toàn là kẻ điên rồ. Ở rìa khu này có một quán rượu nhỏ tên là Hoàng Hôn Mèo Hoang, nơi hắn thuê một phòng trên lầu. Dĩ nhiên, tiền thuê là do Vanessa trả.
Bên trong quán, khách khứa đã gần như gục trên cốc rượu của mình. Tôi mua một bình bia ale khá ngon, hy vọng có thể khiến hắn dễ mở miệng hơn. Để lại sau lưng những tiếng lè nhè của những kẻ say xỉn, tôi bước lên cầu thang hẹp bên ngoài, nơi có những vết bẩn đen sì và từng bậc thang kẽo kẹt đáng ngại dưới chân.
Có ba cánh cửa nằm dọc hành lang chật hẹp trên lầu, và tôi gõ lên cánh cửa thứ hai. Không có hồi đáp. Tôi thử vặn nắm đấm cửa, và nó mở ra dễ dàng.
Trần nhà nhô cao tạo thành một góc nhọn, với một khung cửa sổ nhỏ ngay tại điểm giao nhau giữa hai mái, mang đến cảm giác đúng như một căn gác xép thực thụ. Bên trong căn phòng chật chội này là một đống tranh vẽ đặt trên giá vẽ. Chủ đề của chúng vô cùng đa dạng, từ phong cảnh, bình hoa cho đến những cô nàng khỏa thân phơi bày vòng ba, các vị vua đội vương miện quay mặt sang phải, những con quỷ tận thế, vân vân. Nhưng có một điểm chung: tất cả đều chưa hoàn thành.
“Hmm?”
Khi tiến gần hơn đến trung tâm căn phòng, tôi cảm thấy chân mình trơn trượt. Một vệt màu nhạt nhòa hiện ra trên sàn nhà. Tôi ngồi xổm xuống, đưa ngón tay chạm vào nó. Một cảm giác bất an dâng lên trong lòng. Tôi cúi sát xuống sàn hơn và hít một hơi thật sâu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mặc dù đã được lau sạch, đây chắc chắn là một vết máu.
Lần này hắn lại gây ra chuyện gì đây? Ta đứng dậy, đưa mắt rà soát khắp phòng cho đến khi nhận ra một thứ gì đó nằm dưới cửa sổ, bị phủ một tấm vải trắng. Tấm vải trùm lên toàn bộ, che khuất hình dạng bên dưới, nhưng có vẻ thứ bên trong khá nhọn, giống như một cái lều nhỏ. Một vật thể to cỡ này thì có thể là gì chứ? Một người đang ngồi co ro dưới đó chăng?
Tôi cẩn thận quan sát trước xem có đôi chân nào thò ra bên dưới không, rồi mới nắm lấy đỉnh tấm vải và giật mạnh một cái. Thứ đầu tiên tôi thấy là một đống đá tròn. Dưới lớp vải là một cái hộp gỗ nhét đầy đá, đặt trên một chiếc ghế nhỏ. Hóa ra chỉ là một trò hù dọa vô nghĩa. Tôi thở phào, nhặt lên vài viên đá để xem xét, nhưng chúng chỉ là đá bình thường, không có đá quý hay thứ gì giá trị cả.
Khi tôi còn đang băn khoăn về sự sắp đặt kỳ lạ này, bỗng có tiếng động vang lên phía sau. Tôi quay lại và phát hiện ra chủ nhân của căn phòng đang ngủ trên sàn.
Cuộn mình trong một chiếc chăn ở góc phòng, sau rừng giá vẽ và tranh, là Sterling, đang say giấc nồng. Trong phòng không có giường, có lẽ hắn đã bán nó để kiếm chút tiền. Gương mặt hắn trông thanh thản như thể một họa sĩ cần mẫn nếu như trong tay hắn là một cây cọ vẽ. Nhưng không, thứ hắn đang nắm chặt chỉ là một mảnh đồ lót phụ nữ. Có vẻ như ngày hôm qua hắn đã có một khoảng thời gian rất vui vẻ. Thay vì làm việc, hắn đang dùng số tiền một người phụ nữ chu cấp cho hắn để vui chơi cùng một người phụ nữ khác. Đúng là sống sung sướng thật. /* chó chê mào lắm lông, anh bạn khác dek gì =)) */
“Này. Dậy đi.” Ta dùng mũi giày chọc vào lưng hắn.
Sterling cựa mình trong chăn. “Lại nữa sao, em yêu? Sau bao lần ân ái ngày hôm qua?” hắn lẩm bẩm trong cơn mơ màng, rồi hé mắt nhìn lên. Thấy tôi, hắn ngáp dài. “Matthew? Chúng ta có hẹn đi uống rượu hôm nay sao?”
"Tôi cần hỏi anh vài chuyện. Dậy đi." Tôi lại lấy mũi giày thúc vào hắn qua lớp chăn. "Hay là ngươi cần một nụ hôn đánh thức? Tôi đảm bảo sẽ khiến anh nhớ mãi không quên."
Sterling lập tức bật dậy.
"Nhân tiện, vết máu trên sàn là gì thế? Có ai đổ máu ở đây sao?"
Hắn lắc đầu. "Là mực. Tôi chế nó từ máu jumus."
Jumus là một con quái vật xuất hiện ở tầng năm của Đại Hầm ngục. Hãy tưởng tượng một con dê lông trắng đốm đen với sáu chân. Sau đó gắn thêm đôi cánh dơi lên lưng nó, và thay vì móng guốc, hãy hình dung ra móng gấu. Chưa hết, nó còn có thể chạy nhanh bằng một con ngựa. Và... kích thước cũng ngang ngửa.
Chất lỏng trong cơ thể jumus khi tiếp xúc với không khí sẽ trở nên đặc quánh và bám dính, một khi khô lại thì gần như không thể tẩy sạch. Vì loài jumus không quá nguy hiểm, người ta thường săn chúng để lấy chất nhầy làm keo dán.
"Tôi chỉ đang thử nghiệm nguyên liệu chế màu mới thôi. Nếu thành công, nó sẽ cho ra một sắc đỏ cực kỳ đậm và sống động."
"Thế còn đống đá bên kia?"
"À, mấy cái đó hả?" Sterling vươn cổ nhìn qua đám giá vẽ. "Một số màu của tôi được làm bằng cách nghiền nát quặng khoáng."
"Vậy mà tôi còn tưởng anh vớ được đá quý." Nếu đúng thế thì tôi đã có cách giải quyết xong yêu cầu của Vanessa một cách nhanh gọn.
"Đừng có động vào đống đó." Sterling đứng dậy, vội vã chộp lấy tấm vải trắng vừa rơi xuống sàn. "Chúng đổi màu dưới ánh mặt trời đấy. Tôi đang cố ý che nắng cho chúng."
"Rồi, rồi." Tôi gật gù. "Nhân tiện, nghe nói dạo này anh khá giả lắm. Tìm được cách kiếm tiền nhanh nào à?"
Hắn khựng lại ngay khi đang kéo tấm vải phủ lên đống đá. "Tôi, ờ..."
Không thể có phản ứng nào rõ ràng hơn thế. Hắn vội vàng che tấm vải ra sau lưng, trong khi mắt láo liên khắp nơi.
"Này, Tôi coi anh là người tốt." Tôi tỏ ra thấu hiểu và thân thiện. "Anh không quen giấu giếm chuyện gì cả. Nếu anh đang dính dáng đến việc làm ăn bẩn thỉu nào đó, thì hãy rút lui ngay. Vanessa đang lo lắng cho anh đấy."
"Không, không, không phải thế đâu." Hắn xua tay, lòng bàn tay đầy mồ hôi quệt vào quần. "Không có gì phạm pháp cả. Không ai bị tổn hại cả. Dù… có thể nó hơi thiếu danh dự một chút…"
Chừng đó thông tin là đủ để ta nảy ra một ý nghĩ. “Khoan đã, có phải anh là một Picker - Kẻ lượm mót không?”
Rất nhiều thứ có thể được tìm thấy trong hầm ngục. Vũ khí và vật phẩm mà các mạo hiểm giả đánh rơi hoặc làm mất trong lúc thám hiểm, đồ dùng của những kẻ đã bỏ mạng, hay nguyên liệu từ xác quái vật bị tiêu diệt rồi bị bỏ lại.
Đối với các mạo hiểm giả giàu kinh nghiệm, quái vật ở những tầng trên hầu như chẳng đáng một xu. Bọn họ không buồn lột da hay cắt tai quái vật, chỉ đơn giản bỏ lại xác và tiếp tục tiến sâu hơn. Theo thời gian, hầm ngục sẽ hấp thụ các xác chết đó, nhưng nếu nhanh tay, bạn có thể tháo rời chúng và mang về bán cho Hội Mạo Hiểm Giả trước khi chúng biến mất.
Chuyện này tự nó không phải là phạm pháp. Hội rất vui khi có thêm da, xương và những thứ linh tinh khác mà không cần hỏi chúng từ đâu ra.
Nhưng đương nhiên, các mạo hiểm giả lại chẳng ưa gì chuyện đó. Họ coi đây là hành vi ăn bám, ăn hôi công sức của người khác, vì thế mới đặt ra cái tên "Picker - Kẻ lượm mót" – ví chúng với lũ quạ đến rỉa hạt giống trên ruộng đã được gieo sẵn.
Mạo hiểm giả vốn là một đám cáu kỉnh và nóng nảy. Gặp chuyện không vừa mắt, bọn chúng sẽ không ngần ngại bẻ gãy vài cái tay, hoặc lôi bạn vào hầm ngục để làm những thứ không ai biết được. Dù chuyện này bị cấm theo quy tắc của Hội, nhưng kẻ nhặt nhạnh đa số là những mạo hiểm giả thất bại hoặc dân nghèo. Hội sẽ không phí công bảo vệ bọn họ, miễn là chưa có ai bị giết. Mà nếu có kẻ chết trong hầm ngục mà không có chứng cứ, thì xem như xong. Hầu hết trường hợp đều bị phân loại là "tai nạn."
“Anh hiểu mà, Matthew,” Sterling nhăn nhó. “Tôi vẫn chưa muốn chết đâu. Chỉ là kiếm thêm chút tiền thôi.”
Hắn trông chẳng khác gì một đứa trẻ bị phát hiện làm trò nghịch dại, đang cố nghĩ ra lý do nào đó để khỏi bị phạt.
“Tôi chỉ làm ở những tầng đầu tiên, luôn che mặt khi hành động. Tôi còn nhờ người khác đem đồ ra giùm. Tin tôi đi, tôi không có ý định tranh chấp gì với mạo hiểm giả đâu. Với lại—”
“Tôi không quan tâm ngươi có lượm mót hay không,” tôi nói, chán ghét. Tôi không định ngồi nghe một thằng công tử bột biện minh với mình. “Nhưng chỉ có vậy thì không đủ. Đi lượm mót thì kiếm được bao nhiêu chứ? Xét số tiền anh vung tay gần đây, có mà ngày nào anh cũng phải vớ được da sói pha lê mới đủ.”
“Anh có quên tôi làm nghề gì không?” Sterling nói, lắc tấm tranh trên giá vẽ gần đó như một đứa trẻ được ru trong cũi.
“Tôi sẽ tin câu chuyện của anh nếu anh là một họa sĩ hoàng gia,” tôi đáp, liếc mắt nhìn qua bức tranh nửa hoàn thành của một bình hoa, “nhưng Vanessa luôn theo dõi mọi thứ về nghệ thuật của anh. Và cô ấy thề với tôi rằng anh chưa bán được một bức nào cả.”
“Đôi khi tôi nhận được những đơn đặt hàng. Người ta muốn tranh chân dung, hoặc biển hiệu cho tiệm bánh… và những thứ tương tự.”
Những người như vậy được gọi là những kẻ lập dị.
“Thật dễ dàng cho anh, Matthew. Anh được sống cùng với người Công Chúa Hiệp Sĩ tuyệt đẹp đó. Tôi ghen tị đến mức muốn có ngay một chút của cuộc sống đó.”
“Đừng có ngu ngốc.”
Hắn chẳng hay chút nào về áp lực tôi phải gánh chịu khi sống cùng Arwin. “Hơn nữa, anh đã có Vanessa rồi.”
“Nhưng Vanessa chỉ trả cho ta rất ít tiền tiêu hàng tháng mà.”
“Điện Hạ của tôi cũng thế! Chinh phục hầm ngục tiêu hao tiền lắm.”
Vũ khí và giáp phải được bảo dưỡng thường xuyên.
Nếu gì đó hỏng hóc, phải thay thế ngay.
Thức ăn, dược phẩm, và các vật tiêu hao khác cũng phải được bổ sung thường xuyên.
Những người sống sót ở Mactarode dường như rất keo kiệt, hầu như chẳng bao giờ quyên góp tiền để giúp đỡ Người để đạt được thành công.
“Nhắc đến chuyện đó, gần đây cô ta chẳng đeo trang sức gì nữa, phải không?
Không nhẫn, không hoa tai, không dây chuyền đắt tiền. Cô ta đã bán hết chúng sao?”
“Anh chẳng thể xuống hầm ngục với thứ rác rưởi như vậy đâu. Anh sẽ chỉ mất hết nó.”
“Được rồi. Chắc là do rơi khi đang chiến đấu, phải không? Tôi sẽ đi tìm lại chúng.”
“Cứ làm theo ý anh,” tôi nói một cách bình thản, trong khi trong lòng tôi đã cảm thấy chuyện này thật lãng phí thời gian.
Dù đứa trẻ đó là họa sĩ, hay Kẻ lượm mót, hay thậm chí là kẻ mại dâm, tôi chẳng định phá hoại khả năng kiếm sống của nó.
Chuyện này đủ để tôi hoàn thành nghĩa vụ với Vanessa rồi.
“Chỉ còn một chuyện nữa. Anh có khách hàng nào không?”
“Cái gì, để anh kiểm tra lại sao? Anh không tin ta à?”
“Dù khách hàng đó là ai, chúng có đủ điên rồ đến mức dùng nghệ thuật của anh làm quảng cáo.
Có khi chúng còn trộn đá vôi vào bột mì nữa. Tôi chỉ muốn biết cái tiệm bánh nào ta nên tránh xa.”
Sterling và tôi uống hết bình bia tôi mang theo. Khi tôi rời khỏi chỗ đó, hoàng hôn đã nhuộm vàng cả thành phố.
Tốt nhất là nên theo dõi manh mối về những bức tranh được đặt hàng và công việc lượm mót, nhưng chuyện đó có thể để đến ngày mai. Báo cáo lại cho Vanessa sẽ phải đợi sau.
.
-----
.
Tôi hơi ngà ngà khi về đến nhà, đến mức mất một lúc mới nhận ra cửa không khóa.
Lại bị trộm sao?
Lông gáy dựng lên, tôi mở cửa.
“Ngươi đã ở đâu?”
Giọng nói nghiêm nghị vang lên.
Điện Hạ Cao Quý đang đợi tôi.
Hóa ra thằng nhóc Ralphie đã bị thương trong hầm ngục, khiến họ phải trở về sớm hơn dự kiến. Tôi thay đồ, rồi chúng tôi cùng ăn tối.
Ngồi đối diện nhau ở chiếc bàn nhỏ trong phòng ăn là một thói quen quen thuộc nhưng ấm cúng.
Ánh sáng từ những ngọn nến yếu ớt nhưng mang đến một bầu không khí riêng.
Hôm nay tôi không có thời gian nấu ăn đàng hoàng, nên chỉ là một bữa tạm bợ với những gì tôi kiếm được từ bên ngoài.
“Một kẻ lượm mót sao?”
Arwin lặp lại, dùng nĩa cắt qua miếng thịt vịt quay.
“Ta cảm thấy dạo gần đây mình đã thấy bọn chúng rồi.”
Sau khi nuốt một miếng thịt, nàng lắc đầu.
“Có những kẻ bò lê lết trên sàn hầm ngục, kéo xác quái vật vào bóng tối. Khi đó ta đã thắc mắc tại sao. Xem ra đây chính là câu trả lời.”
Nàng uống một ngụm rượu để trôi bớt vị mỡ béo.
“Hội mạo hiểm giả nên cấm luôn cái nghề lượm mót này đi.”
“Họ không thể làm vậy, dù có muốn,” tôi nói. “Phần lớn kẻ lượm mót là những mạo hiểm giả đã mất khả năng chiến đấu hoặc là dân nghèo cùng con cái của họ. Cấm đoán công việc này chẳng khác gì cắt đứt đường sống của họ.”
Kết cục của một kẻ nghèo không có thu nhập là hoặc chết đói, hoặc trở thành tội phạm.
Cái gọi là người nghèo chính trực, đầy phẩm giá chỉ là ảo tưởng của đám giàu có hoặc kẻ ngu xuẩn.
Thế giới này không phải chỉ toàn linh mục cao quý và thánh nhân.
“Vậy chẳng phải tên Sterling này đang trực tiếp cướp miếng ăn của dân nghèo sao?”
Arwin hỏi, vừa nói vừa nhai dữ dội.
“Từ tốn nào,” tôi trách nhẹ.
Tôi rút khăn tay ra, chấm vào khóe miệng nơi nước sốt còn dính lại.
Nàng hất tay tôi ra, làu bàu rằng mình không phải con nít.
Mà cái hành động đó lại khiến nàng trông trẻ con hơn bao giờ hết.
“Vì thế hắn mới làm trong bí mật. Thực ra, hắn cũng khá có tiếng trong hội.”
Sterling là một nhân vật không được lòng các mạo hiểm giả và nhân viên trong hội, dù không đến mức bị ghét như tôi.
Một họa sĩ vô dụng mà lại vớ được một người phụ nữ xinh đẹp, tài năng, lại là trụ cột gia đình thì chẳng khác nào tự rước lấy một cú đấm.
“Tôi đã cảnh báo hắn rồi. Còn lại là vấn đề của hắn. Nếu thằng ngốc đó gây chuyện thì không liên quan đến tôi. Đáng đời hắn thôi.”
Arwin bỗng cứng đờ như tượng.
Nàng nắm chặt nĩa và dao, dường như đang cố kìm nén một cơn giận hoặc một niềm tiếc nuối.
“Xin lỗi. Tôi không nên nói thế.”
Tôi suýt lỡ lời lần nữa.
“Tôi nghiêm túc xin lỗi.”
“Đừng bận tâm,” nàng mỉm cười cao quý. “Những câu đùa của ngươi không còn đủ sức khiến ta tổn thương nữa đâu.”
“Điện Hạ quả là đã rèn được một lớp da dày.”
“Cũng nhờ vị sư phụ vô cùng thô lỗ của ta đấy. Giờ ta còn có thể phớt lờ mấy lời vớ vẩn của mạo hiểm giả. Chúng chẳng còn khiến ta bận tâm nữa.”
“Thật là một vinh dự.”
Tôi cúi chào nàng một cách lố lăng.
Arwin muốn bỏ qua chuyện này, và tôi cũng vui vẻ chiều theo.
Dù đang cười khúc khích, nàng vẫn lộ vẻ trầm tư.
“Hôm nay có nhiều chuyện chẳng lành. Ngươi còn nhớ Andy không?”
“À, cái gã lính đánh thuê thất bại ấy à?”
Hắn đâu đó tầm hai mươi ba, hai mươi bốn, nếu tôi nhớ không nhầm.
Người thì mảnh khảnh, nhưng lại vác theo một thanh đại kiếm to tổ bố trên lưng.
Tóc đỏ ngắn, da rám nắng, nụ cười cũng khá có duyên.
Hắn từng rất thân thiết với tổ đội của Arwin, nàng từng kể tôi nghe.
“Andy chết rồi.”
Tôi khựng lại, hơi thở nghẹn trong cổ họng.
“Nếu hắn chết trong hầm ngục thì ta còn có thể chấp nhận được.
Nhưng mọi chuyện lại quá tồi tệ.
Hắn đánh nhau với đám lính gác, bị xô ngã đập đầu xuống đất.
Đến lúc ta chạy đến nơi, hắn đã không còn thở nữa.”
Chết như một con chó, chẳng có lấy một điểm sáng nào để an ủi.
“Nghe nói là do tranh cãi về tiền trả cho thợ rèn.
Theo một cách nào đó, thì lỗi cũng là ở hắn.
Nhưng có một điều khiến ta bận tâm: nguyên nhân thực sự của cuộc tranh cãi.”
“Là gì?”
“Trong số tiền Andy trả, có tiền giả.”
Ánh mắt nàng lóe lên.
“Và chính Hội Mạo Hiểm Giả đã chuẩn bị số tiền đó cho hắn.”
Sáng hôm sau, tôi ra ngoài trước khi Điện Hạ thức dậy.
Tôi định tìm gặp vị hoàng đế tương lai đã đặt tranh chân dung của Sterling, cũng như tiệm bánh điên rồ thuê hắn vẽ bảng hiệu.
Nói ngắn gọn, Sterling không nói dối.
Thật sự có một tiệm bánh bán thứ bột màu xanh bẩn thỉu như thể nó là bánh mì mới nướng.
Và cũng có một ông lão từng mở cửa hàng tạp hóa đã thuê hắn vẽ chân dung.
Tôi còn xin xem bức tranh, phòng trường hợp có điều gì đáng nghi.
Bất ngờ thay, nó không tệ.
Miễn là bỏ qua việc da ông lão loang lổ xanh, tím, xám như xác chết.
Tôi hỏi bóng gió về giá tiền, và đúng như dự đoán, chỉ là một khoản rẻ mạt.
Không rõ hắn có thực sự kiếm được đồng nào không, nhưng tôi sẽ để Vanessa lo chuyện đó.
Để có thêm thông tin cho câu chuyện lượm mót và viết báo cáo tử tế hơn, tôi ghé qua Hội Mạo Hiểm Giả.
Và còn chuyện tiền giả, tôi cũng muốn bàn với Dez.
Toàn bộ thu nhập của tôi đều do Arwin chu cấp.
Mà tiền nàng có được là từ việc bán kho báu và nguyên liệu quái vật ở hầm ngục.
Nghĩa là nếu tiền giả đang hoành hành trong hội, tôi cũng lãnh đủ.
Chỉ nghĩ đến chuyện số tiền trợ cấp nàng đưa cho tôi là tiền giả, tôi đã thấy bi kịch.
Tôi thề với lòng, hôm nay phải cứng rắn đảm bảo hội không đưa tiền giả cho chúng tôi.
Nhưng hóa ra, chẳng cần tôi phải lo.
Bên ngoài tòa nhà hội đã có một đám đông tụ tập.
Còn bên trong, mạo hiểm giả chen chúc trước quầy giao dịch, mắng chửi và trút giận lên nhân viên trực ban.
Một số tin đồn về đồng tiền giả đã lan rộng.
Có lẽ mọi chuyện bắt đầu từ vụ của Andy, và bây giờ, nhiều người khác cũng hoảng loạn, nghi ngờ rằng số tiền họ nhận từ hội cũng là giả.
Nhân viên hội gào lên cố gắng giải thích, nhưng chỉ khiến mọi thứ tệ hơn.
Lũ ngốc khi máu đã dồn lên não, có hét thế nào cũng vô ích.
Dội thẳng một xô nước lạnh có khi còn hiệu quả hơn.
Dez đâu rồi?
Công việc của hắn là xử lý những tình huống như thế này.
Chỉ cần dùng hai bàn tay hộ pháp của mình mà vặn nhẹ chỗ hiểm của vài tên đầu đất, bọn chúng sẽ rụt vòi ngay.
“A! Matthew!”
April từ đâu chạy đến, mặt tái mét.
“Có chuyện lớn rồi! Mọi người đang bắt nạt Dez! Anh là bạn của ông ấy, mau ra giúp đi!”
“Không, không đời nào.” Tôi lắc đầu.
Làm gì có chuyện ai đó bắt nạt được Dez?
Đến quái vật cũng không làm được, huống hồ gì mạo hiểm giả quèn.
“Thật mà! Nhìn đi!”
Cô bé chỉ tay về một góc phòng, nơi một đám mạo hiểm giả đang vây lấy ai đó, quát tháo ầm ĩ.
Tôi kiễng chân nhìn qua đám đông và nhận ra Dez ở giữa.
Hắn đang ngồi trên ghế, hai tay khoanh trước ngực, mắt nhắm nghiền.
Mặt vẫn bĩu ra cau có như mọi khi.
Và quan trọng nhất...
Chân hắn không chạm đất.
Đôi giày cũ rích treo lủng lẳng như xác rắn chết.
Trông chẳng khác gì đang bị bắt nạt thật.
“Nãy giờ là như vậy đấy!” April hốt hoảng.
“Anh mau ra cứu đi!”
“Chắc tôi ra nói một câu là xong.” Tôi nhún vai.
Dù gì em cũng là cháu gái của hội trưởng.
Chỉ cần mở miệng ra, mấy tên kia chắc chắn sẽ câm như hến.
“Nhưng đó là quyền lực của ông, không phải của em!”
Cô nhóc lúc nào cũng thích tỏ ra người lớn, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là con nít.
“Đây có phải lúc kén cá chọn canh không?” Tôi nhướn mày.
“Em muốn cứu Dez, đúng không?”
Có vũ khí trong tay thì cứ dùng.
Thà bị nói dựa hơi còn hơn sau này phải hối hận.
“...Được rồi!”
April hậm hực khoanh tay, hùng hổ tiến về đám đông.
“Này mấy người kia! Mấy người đang làm gì với De—mmmph?!”
Trước khi April kịp nói hết câu, một nhân viên hội từ phía sau lao tới, bịt miệng cô bé lại rồi kéo tuột về quầy.
Đến tận lúc khuất sau góc phòng, ánh mắt cô nhóc vẫn khẩn thiết cầu cứu tôi.
Lo bò trắng răng.
Dez đâu có cần giúp.
Trong căn phòng này, không ai thắng nổi ông ta trong một trận đấu sòng phẳng.
“Ê! Mày có nghe không đấy?!”
Đối diện với Dez là một gã mạo hiểm giả to xác.
Hắn hói, nhưng bù lại có cặp lông mày rậm, cùng cái mồm bự chảng.
Mặt đỏ lựng như gấc, máu nóng dồn hết lên mặt, trông cứ như sắp phát điên.
“Bọn tao biết là mày làm chuyện đó!”
Bọn họ đang buộc tội Dez có dính líu tới vụ tiền giả của hội.
Mặc dù nhìn thô kệch, người lùn lại rất khéo tay.
Họ có thể chế tác trang sức cực kỳ tinh xảo chỉ bằng một tay, trong khi tay còn lại sờ soạng một bộ ngực nào đó.
Ở Gray Neighbor, số người lùn không nhiều.
Người lùn duy nhất quanh quẩn ở hội, kể cả trong đám mạo hiểm giả, chính là Dez.
Điều đó khiến người ta mặc nhiên quy chụp hắn là nguồn cơn của vụ tiền giả.
Dù là chủ mưu hay bị ai đó sai khiến, đám đông vẫn đồng thanh trút mọi nghi ngờ lên hắn.
Dez không nói một lời.
Hắn để mặc những lời lẽ độc địa đổ ập lên đầu, không hề phản ứng.
Hắn có thể coi chúng như rác rưởi, nhưng thay vào đó, lại nghiêm túc lắng nghe.
“Nói gì đi chứ, đồ chuột chũi!” gã hói khạc nhổ, dùng một từ miệt thị người lùn.
Ở vài nơi, chỉ riêng từ đó thôi cũng đủ gây ra một vụ án mạng.
Nhưng Dez vẫn chỉ ngồi yên.
Chúa ơi.
“Chào các quý ông. Có chuyện gì vậy?”
Tôi thản nhiên bước vào giữa đám đông.
“Mấy người đang nhờ hắn tư vấn kỹ viện à?”
Cả bọn quay lại.
Mắt tràn đầy ghét bỏ, ganh tị, hoặc sát ý.
Không có một ai nhìn tôi bằng ánh mắt tôn trọng hay ngưỡng mộ.
Đáng lẽ phải có ít nhất một người chứ.
“Tôi có nghe lỏm được mấy lời buộc tội.”
Tôi gật gù, ánh mắt lướt qua Dez rồi nhìn về đám đông.
“Hình như có người bảo thằng lùn râu xồm này đã tự đúc ra mớ tiền giả để phát tán.”
“Nghe mà kinh tởm quá chừng.”
Tôi từ từ len qua đám đông, đến khi đứng sát Dez thì đặt hẳn cùi chỏ lên đầu hắn.
“Mấy người nói đúng một điều.”
Tôi cười nhạt.
“Thằng râu xồm này đúng là người lùn.”
“Còn cách mà hội đối xử với nó thì...”
Tôi lắc đầu, nhìn đám đông với ánh mắt chán ghét.
“Thật là rẻ rúng.”
Không chỉ làm bảo vệ, hắn còn vác hàng, nhổ cỏ, dọn dẹp, giặt giũ, đánh giày, và thậm chí xuống hầm ngục để nhặt lại đồ thất lạc cùng xác chết.
Hằng ngày bị bóc lột đến kiệt sức, nhưng đổi lại chỉ là một khoản lương rẻ mạt.
Bất cứ ai rơi vào tình cảnh đó cũng sẽ thấy phẫn nộ.
“Vậy mấy người nghĩ hắn làm tiền giả để chơi khăm hội à?”
Tôi gật gù ra vẻ đồng tình.
“Nghe cũng có lý đấy.”
Rồi tôi ngừng lại một chút, nhìn thẳng vào gã hói.
“Nhưng thành thật mà nói, mấy người nhầm to rồi.”
“Gì cơ?!”
Tôi giơ tay trấn an, trước khi gã hói nổi điên.
“Bình tĩnh. Nghĩ thử coi.”
“Mấy người thực sự nghĩ trong cái đống râu xồm đó lại có bộ não đủ thông minh để làm tiền giả à?”
Tôi chỉ tay xuống Dez, người vẫn đang bất động như tượng.
“Hắn là một thằng đần đến nỗi đếm tuổi còn sai.”
“Nhưng hắn khỏe hơn bất kỳ ai trong hội.”
Tôi nhếch mép.
“Nếu hắn muốn chơi khăm mấy người, thì thay vì làm tiền giả, hắn chẳng phải đấm thẳng vào bụng mấy người cho nhanh và sướng hơn sao?”
Đám đông im bặt.
Mọi người ngước nhìn lên trần nhà.
Ngay phía trên quầy, có một tấm ván gỗ mới tinh được đóng vào.
Đó chính là chỗ mà Dez đã nhét đầu một mạo hiểm giả xuyên qua chỉ mới hôm trước.
Vài kẻ thậm chí còn rùng mình khi nhớ lại.
“Nhưng cũng có thể có kẻ xúi giục hắn!”
“Cái lão cau có, lầm lì này đã bao giờ nói chuyện với ai chưa?”
Tôi cười nhạt.
“Ngoại trừ tôi ra, thử chỉ xem hắn đã thân thiết với ai chưa?”
“Nếu hắn bỗng dưng qua lại với ai khác, chẳng phải sẽ rất dễ bị phát hiện sao?”
“À… tao hiểu ý mày rồi.”
Gã hói đột nhiên nhe răng cười.
“Vậy ra mày mới là kẻ chủ mưu.”
Lập luận đơn giản mà ngu xuẩn.
Dez là người duy nhất trong hội có thể làm tiền giả.
Tôi là người duy nhất thân với hắn.
Vậy tôi chính là kẻ đã sai khiến hắn làm việc này.
“Nếu tao thực sự muốn làm tiền giả, thì tao đã không làm theo cách lộ liễu như thế.”
“Thế ai làm, hả?!”
Gã gầm lên, tóm lấy cổ áo tôi.
“Và tao không chấp nhận nghe thằng trai bao sống nhờ tiền công chúa kiếm về mà dám lên giọng!”
“Ồ, ghen tị hả? Sao không nói sớm?”
Tôi đáp lại bằng giọng thương hại.
“Nói thật, mày không phải gu của tao.”
“Nhưng nếu mày tha thiết muốn thế, tao cũng có thể vuốt ve đít mày một chút.”
Tôi luồn tay ra sau lưng gã hói.
Mông hắn vừa cứng vừa phẳng, nhưng tôi vẫn xoa nhẹ nhàng như vuốt đầu một con mèo nhỏ.
Rồi tôi thổi khẽ vào tai hắn.
Gã phát điên.
Nắm đấm hắn vung lên, tôi bay thẳng vào tường.
Chưa kịp đứng dậy, những đôi giày lớn đã giẫm đạp lên người tôi.
Những cú đá vào bụng và ngực thì không đau lắm, nhưng có một cú trúng ngay vào hạ bộ.
Tôi thoáng thấy thiên đường.
Gã hói không phải kẻ duy nhất tham gia.
Lũ cặn bã khác cũng nhân cơ hội mà lao vào.
Vừa lúc tôi bắt đầu thấy hơi lo lắng—
Tiếng gầm vang lên.
Bóng tối bao quanh tôi đột nhiên biến mất, thay vào đó là những tiếng hét thảm thiết.
Tôi ngẩng lên.
Tấm lưng rộng như bức tường của Dez hiện ra trước mắt.
Trên tay hắn là một chân bàn.
Năm tên mạo hiểm giả, bao gồm cả gã hói, nằm chồng lên nhau ở góc phòng.
Hắn đã hất văng cả đám bằng cái bàn đó.
Tôi khoanh chân ngồi xuống.
“Không cần phải bận tâm đâu.”
“Câu đó ta mới phải nói.”
Dez gầm gừ.
“Lúc nào mày cũng xía mũi vào chuyện không liên quan. Chẳng bao giờ thèm hỏi tao một câu.”
“Lần sau, mày nên viết sẵn rồi đeo biển trên cổ.”
Tôi nhún vai.
Tự gánh hết mọi chuyện rồi giả vờ ổn, là lỗi của hắn.
“Chuyện quái gì xảy ra ở đây?!”
Giọng oang oang vang lên ngoài cửa.
Một người đàn ông to lớn bước vào.
Không cần nhìn kỹ cũng biết—
Hội trưởng đã tới.
Rõ ràng là do cháu gái ông ta đi gọi.
Với vài câu quát tháo, hội trưởng dễ dàng trấn áp đám ngốc nghếch trong phòng.
Dù đã gần sáu mươi, nhưng cơ bắp cuồn cuộn và ánh mắt sắc bén như diều hâu của ông vẫn không hề suy giảm.
Thuở thiếu thời, ông từng là mạo hiểm giả cấp bảy sao—một danh hiệu đầy trọng lượng, không chỉ trong hội mà còn cả thành phố, từ giới chính thống đến thế giới ngầm.
Không một tên mạo hiểm giả hèn nhát nào dám chống đối ông.
Vậy là xong.
Ông ta quẳng tôi ra ngoài, bảo tôi cút đi.
Tôi lặng lẽ chuồn ra sau, hướng đến chỗ của Dez.
.
-----
.
Hắn đứng bên bàn, khoanh tay lại.
Thấy tôi vào, hắn quay đi.
“Xin lỗi nhé.”
Đó là cách Dez nói lời cảm ơn.
Tên râu xồm cao ngạo này chẳng đời nào chịu nói thẳng ra.
Không phải tôi mong đợi gì, mà cũng chẳng thấy mình xứng đáng với sự biết ơn ấy.
“Muốn đền đáp thì làm thế này đi.”
Tôi xoa nhẹ lên mông hắn.
Một cú đấm thẳng vào bụng lập tức giáng xuống.
Cú đau nhất trong ngày.
“Nhắc mới nhớ, ông đúng là cục nợ. Xưa nay vẫn vậy.”
Tôi tiếp tục.
Không thể nào Dez có thể làm tiền giả.
Những gì xảy ra với hắn đã đảm bảo điều đó.
“Nói nghe hay đấy, Mardukas.”
Giờ hắn làm bảo vệ dưới danh nghĩa nhân viên hội.
Nhưng trước đây, Dez cũng từng là mạo hiểm giả.
Hắn đã săn vô số quái vật hung tợn, cùng với một con quỷ đẹp mã tên Mardukas, trong đội huyền thoại Triệu Kiếm.
Và bị nguyền rủa trong tòa tháp đó.
Dez từng mơ trở thành thợ rèn.
Hắn chỉ đi săn quái để có cơ hội kiếm quặng hiếm và kim loại quý.
Danh vọng chẳng có nghĩa lý gì với hắn.
Chỉ là một bước đệm để trở thành thợ thủ công vĩ đại nhất.
Lời nguyền đã cướp đi sự khéo léo của hắn.
Từ một bậc thầy rèn kim loại, giờ ngay cả gấp một tờ giấy cũng không làm được.
Không như tôi, đứng dưới ánh mặt trời cũng chẳng giúp ích gì cho hắn.
Sức mạnh vẫn còn, nhưng hắn không thể rèn bất cứ thứ gì.
Vậy thì vào hầm ngục để làm gì?
Giấc mơ đã chết.
Giờ đây, hắn chỉ là một gã thợ vặt râu xồm.
Bị bóc lột không thương tiếc.
Nhưng hắn không thể thừa nhận rằng mình đã mất đi kỹ năng.
Càng không muốn ai phát hiện.
Lòng tự tôn duy nhất còn sót lại.
Chính vì vậy, tôi không bao giờ tha thứ cho thần mặt trời.
Thằng khốn đó đã cướp đi giấc mơ của bạn tôi.
Tôi thà chết còn hơn phải quỳ gối trước nó.
Giống như tôi, Dez cũng không bao giờ nhắc đến Triệu Kiếm.
Hắn vẫn dùng tên thật, nhưng "Dez" là cái tên quá phổ biến ở người lùn.
Con người vốn không phân biệt nổi bọn họ.
Hắn cứ giả ngốc là xong chuyện.
Bỏ qua trò đùa, tôi kéo ghế ngồi xuống đối diện hắn.
“Vậy ngươi tìm ta làm gì?”
“Cũng như bọn ngu kia thôi. Tiền giả.”
Một nếp nhăn hiện lên trên trán Dez.
“Tất nhiên, tôi biết ông chẳng liên quan gì đến vụ này.”
“Nhưng tôi muốn hiểu rõ tình hình.”
“Tiền thanh toán của hội cũng ảnh hưởng đến túi tiền tôi.”
“Chẳng có gì nhiều để kể.”
Theo lời Dez, hội phát hiện ra tiền giả ngay trước khi vụ Andy bị phanh phui.
Người đầu tiên nhận ra chính là Vanessa.
Cô ấy để ý thấy sự khác biệt về trọng lượng khi chuẩn bị thanh toán.
Khi đặt lên cân, chúng nặng khác với vàng thật.
Bổ đôi ra, hóa ra bên trong toàn chì và đồng, chỉ được sơn vàng bên ngoài.
Sau khi kiểm tra kỹ, hội tìm thấy tám đồng vàng giả.
Tiền bạc và tiền đồng thì không có vấn đề.
“Chắc hẳn chúng mới xuất hiện gần đây.”
“Hội vẫn thường giao dịch với các thương nhân bằng vàng.”
“Khả năng cao là tiền đến từ một thị trấn khác.”
“Nhưng nguồn gốc thực sự thì chưa rõ.”
“Ra vậy.”
Để đối phó, hội quyết định cân tất cả mọi đồng tiền trước khi trao đổi.
Điều này sẽ ngăn tiền giả tiếp tục lưu hành,
nhưng không ngăn được việc chúng tiếp tục được sản xuất.
“Tiền vàng được đúc khuôn tại xưởng tiền của vương quốc.”
“Bọn đần kia nghĩ mỗi đồng tiền được chạm khắc bằng tay.”
“Tôi xem mấy đồng giả đó được không?”
“Đợi ta một lát.”
Dez quay lại với hai đồng vàng.
Một đồng là tiền Rued, đơn vị chung của khu vực phía Tây lục địa.
Đồng còn lại đã bị bổ đôi.
Bên trong màu xỉn hơn hẳn so với bề mặt bên ngoài.
Đồng nguyên vẹn là thật.
Đồng bị chẻ đôi là giả, theo như Dez chỉ ra.
“Dễ kiểm tra lắm, vì trọng lượng khác nhau.”
“Chỉ cần đặt lên cân là biết ngay.”
“Nhìn thì giống thật đấy, nhưng với mắt ta, tay nghề này quá cẩu thả.”
“Nhìn chỗ này xem?”
Ông ta chỉ vào chân dung ở giữa đồng tiền.
Đó là hình nghiêng của một vị vua đội vương miện và có ria mép.
Nghe nói đó là vị vua từ ba đời trước, nhưng nếu là tôi, tôi thích in hình ngực hoặc mông của một nữ thần hơn.
Còn cái má trái của lão này? /* Mewing + cằm nhọn à =)) */
Chỉ khiến tôi muốn đấm.
Nếu là vàng thật, thì có khi tôi còn hôn được.
“Đồng thật có bốn sợi ria, nhưng cái này chỉ có ba.”
“Chắc khuôn bị hỏng lúc đúc.”
“Tay nghề tệ hại.”
Dù là hàng giả, Dez vẫn bắt lỗi từng chút một.
Tôi ngắm kỹ đồng tiền giả.
Có một vết cắn trên bề mặt, chắc là do Dez thử.
Chứ tôi thì chẳng đời nào cho thứ này vào miệng.
“Làm khuôn thì phải khắc ngược chữ đúng không?”
“Dĩ nhiên.”
Anh ta lườm tôi, như thể tôi vừa hỏi một điều hiển nhiên.
“Đừng giận nhé.”
“Nhưng nếu ông phải tạc khuôn tiền giả, thì làm sao?”
“Dùng gương.”
Dez trả lời ngay.
“Nhìn qua gương để kiểm tra xem có giống tiền thật không.”
“Mà nếu giữa chừng làm mất đồng mẫu, hoặc phải trả lại nó?”
“Thì đi lấy đồng khác. Hoặc dùng trí nhớ.”
“Còn nếu không có lựa chọn đó?”
Dez nghiêng đầu suy nghĩ.
“Vậy thì…”
“Chẳng phải nên vẽ lại nó trước hay sao?”
Mặt trời đã lặn.
Lần này, cửa đã khóa.
Tôi gõ mạnh cho đến khi Sterling mắt nhắm mắt mở bước ra.
Tôi đẩy hắn vào trong, không thèm để ý đến tiếng phàn nàn.
Tôi lật từng tấm vải phủ trên những bức tranh.
Cho đến khi tìm thấy nó.
Một bức vẽ nhà vua nhìn về bên phải.
“Cái quái gì vậy, Matthew?”
“Mày cũng biết khắc gỗ, đúng không?”
Sterling nuốt nước bọt.
“Không… không có ai cả. Tôi chỉ vẽ thôi…”
“Thật sao?” Tôi dí đồng tiền giả sát hơn. “Tôi nghĩ anh bạn chỉ giỏi vẽ tranh dang dở. Vậy mà lần này lại hoàn thành được một thứ có ích cho ai đó?”
Sterling quay mặt đi, mồ hôi lạnh túa ra.
“Tôi không… tôi không biết gì hết!”
Tôi đè mạnh tay lên vai hắn.
“Nghe này. Tôi không giao nộp anh bạn. Tôi chỉ muốn biết kẻ nào đứng sau chuyện này.”
Hắn run rẩy.
“Không ai cả…”
“Đừng có láo nữa.” Tôi nhấn giọng.
“Nếu là mày, tao biết mày đã đổi tranh lấy rượu rồi. Nhưng nếu có kẻ muốn làm giả tiền, thì hắn cần một nghệ nhân biết khắc. Mày không đủ giỏi, nhưng mày biết ai làm được.”
Sterling nín thở.
“…Anh đang giúp tôi thật à?”
“Còn tùy vào chuyện mày khai ra ai.”
Hắn nuốt khan.
Rồi thì thầm.
“Có một thằng. Hắn đến tìm tao…”
Sterling run lên bần bật, rồi lảo đảo tới một chiếc tủ nhỏ góc phòng. Hắn mở tung nó ra, lôi ra một xấp giấy, vài con dao khắc, và một khối kim loại trông có vẻ đã bị đục đẽo dang dở.
“T-thế này thôi… Tôi không có gì khác!”
Tôi lướt nhìn mấy tờ giấy. Những bản phác thảo chi tiết của đồng vàng Rued, từng nét vẽ tỉ mỉ đến đáng sợ. Bên cạnh là một con dấu bằng gỗ với dấu ấn lộn ngược, chắc là thử nghiệm tạo khuôn.
“Ai đã bảo mày làm chuyện này?”
Hắn mím chặt môi, ánh mắt đảo quanh đầy hoảng loạn.
“Nếu mày không nói, thì tao sẽ đi tìm nhóm Khỉ trắng - White Monkeys mà hỏi thẳng.” Tôi lạnh lùng bảo. “Mày nghĩ chúng nó sẽ để yên cho thằng vô dụng làm lộ chuyện sao?”
/* White Monkeys - nhóm Bạch Hầu - Khỉ Trắng, nếu trong bài có lẫn lộn 3 từ này, hãy thông cảm vì toi bi ngu */
Sterling tái mét.
“Là… là một thằng tên Gordov. Hắn là trung gian. Tôi chưa từng gặp thủ lĩnh của chúng…”
Gordov. Cái tên nghe quen quen.
Tôi gõ nhẹ lên trán, cố lục lại trí nhớ.
“Có phải Gordov râu đen, chuyên tổ chức sòng bạc lậu?”
“P-phải…”
Chuyện này to hơn tao tưởng. Đám Khỉ Trắng đó không chỉ đơn giản làm tiền giả để kiếm chác, mà bọn chúng có thể đang dùng nó để trả nợ cờ bạc, hối lộ, hoặc thậm chí tài trợ chiến tranh giữa các băng đảng.
Tôi thở dài.
“Được rồi. Chúng ta sẽ làm như này. Tao sẽ lo thủ tiêu chứng cứ, còn chú mày … phải biến khỏi thành phố một thời gian.”
“B-biến đi đâu?”
“Tao quan tâm chắc?” Tôi nhún vai. “Miễn là càng xa Gray Neighbor càng tốt.”
Sterling mếu máo, nhưng hắn hiểu không còn lựa chọn nào khác.
Sterling lúng túng, nhưng sợ chết hơn là sợ mất vui. Hắn vớ lấy một cái túi, nhét vội vài thứ vào đó rồi quay lại, mặt nhăn như khỉ ăn ớt.
“T-tao sẵn sàng…”
“Tốt.” Tôi nắm cổ áo hắn, lôi ra khỏi phòng.
Kế hoạch rất đơn giản: giấu hắn chỗ Dez, rồi tôi sẽ quay lại điều tra Terry. Nếu gã thật sự là đầu mối của vụ tiền giả này, thì tôi sẽ phải làm gì đó trước khi mọi thứ vượt ngoài tầm kiểm soát.
Chúng tôi lẻn qua những con hẻm tối tăm của Gray Neighbor. Lúc này, mặt trời đã gần khuất, ánh đèn lờ mờ từ những quán rượu là nguồn sáng duy nhất.
“Tôi ... tôi không nghĩ tôi đáng để anh giúp thế này…” Sterling lầm bầm khi chúng tôi rẽ vào một góc khuất.
“Tao cũng không nghĩ vậy.” Tôi nhếch mép. “Nhưng tao nợ Vanessa, và tao không muốn thấy Terry băm chú mày ra từng mảnh.”
Hắn run lên, nhưng không phản bác.
Tôi đảo mắt kiểm tra xung quanh, chắc chắn không có ai bám theo, rồi ra hiệu cho hắn tăng tốc. Chỗ của Dez không còn xa nữa. Nhưng linh cảm của tôi cứ nhắc nhở rằng mọi chuyện sẽ không dễ dàng vậy đâu…
Mọi chuyện sau đó diễn ra khá suôn sẻ. Việc tung tin đồn rằng đám Khỉ Trắng đứng sau vụ làm tiền giả đã phát huy tác dụng. Những mạo hiểm giả nóng tính đã lập tức lao đến sào huyệt của chúng. Khi lính gác cũng vào cuộc, mọi thứ biến thành một trận hỗn chiến lớn. Ít nhất một người đã thiệt mạng, nhưng đó cũng là dấu chấm hết cho nhóm này.
Tên thủ lĩnh của chúng cố gắng bỏ trốn nhưng bị bắt tại cổng thành và bị treo ngược bên ngoài sào huyệt của băng nhóm vào sáng hôm sau.
Lính gác cũng đã tịch thu các khuôn đúc. Họ tin rằng chính thợ thủ công của băng nhóm đã tạo ra chúng. Để lại vài khuôn hỏng ở phía sau sào huyệt càng làm cho câu chuyện trở nên đáng tin hơn.
Tôi không kể cho Arwin về chuyện này. Nếu Điện Hạ biết, chắc chắn Sterling sẽ bị đóng đinh lên thập giá. Nhưng tôi có trách nhiệm phải báo cáo mọi thứ cho Vanessa, vì cô ấy là khách hàng của tôi trong vụ này.
Khi tôi đến hội quán để báo cáo, đã có một đám đông tụ tập ở đó. Khoảng hai mươi người đứng thành vòng tròn trong sân, dường như đang theo dõi điều gì đó. Là chuyện gì vậy? Là một kẻ cao ráo cũng có lợi – tôi chỉ cần nhìn qua vai những người khác là thấy.
Ở trung tâm của sự náo động là một cô gái trẻ với mái tóc đen. Tôi đã quên tên cô ta, nhưng khuôn mặt thì vẫn nhận ra. Cô ấy là nhân viên của hội. Trước đây từng là một mạo hiểm giả nhưng phải giải nghệ vì bị thương hay gì đó. Theo những gì tôi nghe được, hội đã thuê cô ấy vì cô ta biết đọc và viết.
Trên tay cô ấy là một thanh kiếm, khuôn mặt trông đầy tức giận và kích động. Đối diện với cô là ba người đàn ông của hội và Vanessa.
“Bình tĩnh lại đi, làm vậy là vì lợi ích của cô,” Vanessa nói với cô gái tóc đen. “Đây không phải lỗi của cô. Cô chỉ đang bị bệnh thôi.”
“Tôi có thể tự quyết định! Tôi đã làm gì các người chứ?!” cô ấy hét lên, lời nói của Vanessa dường như không có tác dụng. Ánh mắt cô ta đầy vẻ mất kiểm soát.
“Nhiễm bệnh từ hầm ngục không phải dấu hiệu của sự yếu đuối. Bất cứ ai cũng có thể gặp phải. Nhưng thứ cô đang sử dụng sẽ không chữa lành cho cô. Nó là con quỷ sẽ ăn mòn cả cơ thể lẫn tâm trí cô.”
Vậy là vết thương của cô ấy không chỉ nằm ở thể xác. Và giờ cô ta đang dùng thuốc để đối phó với nó.
“Tại sao cô quan tâm chứ?! Cứ để tôi yên đi!”
“Tất nhiên tôi quan tâm. Tôi không thể làm ngơ chuyện này,” Vanessa nói nghiêm nghị. “Nếu cô được điều trị đúng cách, cô có thể quay lại cuộc sống bình thường. Nhưng với tình trạng này, cô sẽ tự hủy hoại chính mình.”
“Đồ khốn! Dù sao thì chúng cũng sẽ tống tôi vào tù thôi! Tránh ra!” cô hét lên với những thành viên hội đang cố giữ lấy cô ta.
“Một khi cơ thể cô hồi phục, cô sẽ có thể tìm được một lối sống khác.
Tôi sẽ giúp cô làm điều đó. Được chứ?”
“Đừng có ra lệnh cho tôi! Tránh ra! Tôi sẽ rời khỏi thị trấn này!” cô ta hét lên điên cuồng.
Cô ấy cố chạy thoát, nhưng nhân viên của hội đã chặn đường. Bị dồn vào sát tòa nhà, cô vung kiếm loạn xạ và thỉnh thoảng còn cúi xuống ném cát vào họ. Trông cô ta chẳng khác gì một con thú bị thương, tuyệt vọng đến cùng cực.
“Làm ơn, hãy nghe tôi nói… Này, không! Đừng giết cô ấy!” Vanessa van nài, cố gắng ngăn cản những mạo hiểm giả đang rút kiếm ra với hy vọng lấy lòng cô.
Tình hình có vẻ sẽ không đi đến một kết cục tốt đẹp nào cả. May mắn thay, một vị cứu tinh đã xuất hiện từ phía sau.
Dez tiến về phía cô gái tóc đen mà không nói một lời. Khi anh ta đến gần, cô ấy không thể chịu đựng thêm nữa và vung kiếm về phía anh ta. Đó là một nhát chém khá sắc bén, nhưng với Dez thì chẳng khác nào trò trẻ con. Anh ta gạt phẳng lưỡi kiếm bằng tay không, áp sát cô ta và xoắn mạnh cổ tay cô.
“Khống chế cô ấy lại!” Vanessa ra lệnh.
Dez trói chặt cổ tay cô gái bằng dây thừng. Cô ta vẫn tiếp tục gào thét, nào là không được chạm vào cô ấy, nào là cô ấy sẽ chết, nên họ đã bịt miệng cô ta lại. Và thế là mọi thứ lặng đi.
“Hãy chăm sóc cô ấy.” Vanessa nói.
Những đồng nghiệp cũ lôi cô gái trở lại vào trong tòa nhà. Ngay khi cô ta khuất dạng, Vanessa bắt đầu rơi nước mắt. Cô nhìn theo hướng họ vừa rời đi với ánh mắt đầy tiếc nuối.
Những mạo hiểm giả khác thì giải tán, tiếp tục công việc của họ sau khi đã được chứng kiến một màn kịch hấp dẫn.
Dez cũng quay trở lại nơi anh ta đến. Hoàn toàn phớt lờ tôi, mặc dù tôi đã huýt sáo và reo hò cổ vũ cho anh ta. Đúng là một gã lạnh lùng, vô cảm!
Giờ chỉ còn lại tôi và Vanessa.
“Oh, anh đến rồi à, Matthew,” cô ấy nói khi nhận ra tôi.
“Cô ta là một con nghiện sao?”
“Đúng vậy, đáng buồn thay. Cô ấy đã có những biểu hiện lạ một thời gian rồi. Tôi chỉ muốn chắc chắn nên hỏi cô ấy về chuyện đó, và cô ấy đã nổi điên với tôi… Trời ơi…” Vanessa thở dài, nhéo sống mũi đầy mệt mỏi.
Tôi từng thấy Vanessa nói chuyện khá thân thiện với cô gái đó vài lần. Có vẻ họ cũng khá thân nhau.
“Có phải là thuốc Release không?”
“Không, là một loại khác. Tôi nghĩ cô ấy chỉ vừa mới bắt đầu sử dụng nó. Nếu tôi không làm gì, có lẽ cô ấy đã thực sự không còn cứu vãn được nữa. Tôi chỉ muốn kéo cô ấy thoát ra khỏi nó sớm nhất có thể.”
Họ sẽ giam cô ấy trong nhà ngục dưới lòng đất của hội cho đến khi thuốc hết tác dụng. Những gì xảy ra tiếp theo phụ thuộc vào cô ấy, nhưng chắc chắn cô ta sẽ bị trục xuất khỏi hội.
“Có vẻ hơi quá đáng, đúng không?” tôi hỏi. Phải có cách nói chuyện với cô ấy tốt hơn chứ. Ít nhất là một cách không khiến cô ta bị trói chặt trước mặt cả đám đông như vậy. Ai đó có thể đã bị thương.
“Không, đây là cách đúng đắn,” Vanessa đáp dứt khoát. “Trong khi chúng ta ngồi đây tranh luận về phương pháp, cơn nghiện sẽ chỉ càng trở nên tồi tệ hơn. Để nó kéo dài chỉ làm tăng thêm nỗi đau về sau mà thôi.”
“Nói từ kinh nghiệm cá nhân à?”
“Chính xác,” cô gật đầu. “Tôi đã có đủ những nỗi đau kiểu đó rồi…”
Cô siết chặt vạt váy của mình. Trên gương mặt cô là sự pha trộn của sợ hãi, đau buồn, tức giận và căm hận—tất cả hòa quyện lại thành một biểu cảm vừa rực lửa vừa sắc nét.
“À, tôi xin lỗi. Anh đến đây vì chuyện của Sterling đúng không?” cô hỏi, như bừng tỉnh khỏi dòng suy nghĩ, kèm theo một nụ cười. “Hẳn là anh đã tìm ra điều gì đó. Kể tôi nghe đi?”
Nụ cười đó quá đột ngột và gượng gạo đến mức tôi không thể đáp lại.
“Thật sự xin lỗi,” cô nói, ôm đầu sau khi tôi kể xong câu chuyện trong văn phòng của cô ấy.
“Không phải lỗi của cô. Là lỗi của Sterling vì ngu ngốc mà đi chơi với một tên lừa đảo chỉ để đổi lấy vài ly rượu miễn phí.”
“Tôi không biết cảm ơn anh thế nào cho đủ. Đây là thứ dành cho anh,” cô nói và đưa tôi một chiếc túi nhỏ.
Cô bảo tôi mở ra, thế nên tôi bẻ dấu niêm phong.
Bên trong là một quả cầu nhỏ vừa vặn trong lòng bàn tay tôi. Nó trong suốt và phát ra ánh sáng yếu ớt.
“Tôi có nó từ rất lâu rồi. Đây là một món đồ ma pháp thực thụ. Nó được gọi là ‘mặt trời tạm thời’.”
Hóa ra đây là một món đồ mà một mạo hiểm giả đã gửi đến hội để giám định. Nhưng trước khi đến lượt thẩm định, chủ nhân của nó đã tử vong. Vì người đó không có thân nhân và không ai đứng ra nhận, hội đã để Vanessa giữ nó.
Một kết cục không thể nào tuyệt vời hơn đối với tôi. Chỉ cần trông chừng một thằng nhóc ngốc nghếch, mà cuối cùng lại nhận được một món quà vô cùng đặc biệt.
“Vậy tôi dùng cái này thế nào?”
Vanessa đặt quả cầu lên lòng bàn tay, nhắm mắt lại và niệm, “Irradiation - Chiếu xạ”
Quả cầu từ từ rời khỏi tay cô, bay lên không trung. Nó tiếp tục di chuyển cho đến khi gần trần nhà thì dừng lại. Quả cầu xoay tròn chậm rãi, tỏa ra một ánh sáng rực rỡ.
“Nó sẽ lơ lửng trên đầu người kích hoạt nó, phát sáng và tự động đi theo anh, dù anh đi đâu.”
“Oooh.”
Dù cố kiềm chế, tôi vẫn không giấu được sự hào hứng. Sức mạnh dường như đang quay trở lại. Chuyện gì sẽ xảy ra đây? Tôi có thực sự được giải thoát khỏi lời nguyền khủng khiếp này không?
Quả cầu vẫn tiếp tục tỏa sáng. Không có gì khác xảy ra. Không gian trở nên im ắng.
“Vậy… nó có tác dụng gì?”
“Như anh thấy đấy, nó chiếu sáng. Nếu để nó ngoài nắng suốt ban ngày, nó sẽ phát sáng rực rỡ thế này vào ban đêm.”
Vậy cơ bản thì… nó chỉ là một cây nến cao cấp. Tôi thất vọng tràn trề, nhưng ít nhất nó cũng giúp tôi tiết kiệm tiền mua nến. Hoặc có lẽ tôi nên bán nó đi. Một món đồ như thế này chắc chắn sẽ có giá trị cao.
Khi tôi còn đang suy tính, ánh sáng của quả cầu dần mờ đi, rồi nó từ từ hạ xuống.
“Tôi đã thử nghiệm rồi. Nếu để nó dưới ánh mặt trời nửa ngày, hiệu ứng sẽ kéo dài trong khoảng ba trăm giây,” Vanessa giải thích, để quả cầu rơi trở lại lòng bàn tay cô. /* Duma đèn pin thái dương năng của đạt zăn tây à =)) */
“Vậy thì không hữu dụng lắm nhỉ.”
“Nếu nó có tác dụng lâu hơn, tôi đã không tặng anh rồi.”
“Nghe cũng hợp lý.”
“Và nó không cần ma thuật để hoạt động, nên anh có thể sử dụng thoải mái. Tận hưởng đi.”
“Tôi xin nhận món quà hào phóng này với lòng biết ơn.”
Dù sao thì nó vẫn có thể bán được giá cao cho một nhà sưu tập giàu có. Nếu cần tiền, tôi hoàn toàn có thể tìm cách sang tay nó.
Nhìn kỹ hơn, tôi nhận thấy bên trong quả cầu trong suốt có thứ gì đó lơ lửng. Không phải chữ cái. Một ký hiệu hay một con dấu nào đó chăng? Nhưng nó quá mờ để tôi có thể nhìn rõ.
“Về chuyện của Sterling,” Vanessa nói với vẻ lo lắng. Tôi rời mắt khỏi quả cầu để nhìn cô.
“Khi nào anh ta có thể rời đi? Tôi đến thăm cậu ấy cách đây không lâu, trông anh ấy thật u sầu. Tôi lo rằng nếu cứ bị nhốt trong đó cả ngày, anh ấy sẽ trầm cảm mất.”
“Cậu ta chỉ đang dỗi vì không được uống rượu thôi.”
“Nhưng tôi lo anh ấy sẽ đổ bệnh mất. Tôi đã mang cho anh ấy vài tấm toan vẽ, nhưng anh ấy chẳng vẽ lấy một bức.”
Đáng tiếc cho Vanessa, Sterling vốn dĩ đã mắc bệnh—bệnh trong đầu. Việc cậu ta không vẽ chẳng phải điều gì mới mẻ.
“Sterling là một tên ngốc, Vanessa. Cậu ta thậm chí còn không đủ thông minh để dính vào ma túy. Những điều cô lo lắng sẽ không xảy ra đâu.”
Cha của Vanessa, một thương nhân buôn tranh, đã mất cả gia tài sau khi bị một thương nhân khác lợi dụng. Việc nhận ra chính sự ngu ngốc của mình đã khiến gia nghiệp sụp đổ khiến ông ta rơi vào tuyệt vọng và tìm đến ma túy. Chỉ trong thời gian ngắn, cả gia đình cô tan nát, theo như lời cô kể.
“Có lẽ anh nói đúng,” cô cười yếu ớt. “Cha tôi khi đó trông thật kỳ lạ, dù cửa tiệm đang dần phá sản. Có ngày ông nhập về cả đống đĩa rẻ tiền, rồi hôm sau lại đập vỡ hết sạch. Cứ lặp đi lặp lại như thế. Đến khi tôi nhận ra vấn đề, thì đã quá muộn.”
Họ cố gắng nhốt ông vào kho hàng, nhưng sự chống cự của ông rất dữ dội. Khi thuốc tan hết, cơn cai nghiện khiến ông ta trở nên hung bạo. Ông đã đánh vợ và con gái mình đến mức gãy xương. Những ảo giác khiến ông ta hoảng loạn đến mức đập vỡ cả cửa kính vì tưởng tượng thấy vô số con mắt đang nhìn chằm chằm từ bên ngoài. Rồi khi cơn cuồng loạn qua đi, ông chỉ biết khóc lóc suốt cả ngày. Sau đó, ông ta rơi vào trạng thái bần thần, không phản ứng với bất kỳ thứ gì xung quanh.
Họ phải bán cả dinh thự, giao lại cửa tiệm cho người khác. Mẹ cô lâm bệnh rồi qua đời. Còn cha cô, sau khi trốn ra ngoài, đã tìm đến đám xã hội đen để mua ma túy. Chúng không mất nhiều thời gian để “xử lý” ông ta. Khi đó, Vanessa chẳng có tiền lo tang lễ, nên thi thể cha cô bị vứt vào hầm ngục.
“Ông ấy từng là một người đàn ông hiền lành và điềm tĩnh, nhưng ma túy đã biến ông thành một kẻ hoàn toàn khác. Thật đáng sợ.”
Đó là lý do Vanessa vừa dịu dàng vừa nghiêm khắc với những kẻ nghiện ngập. Cô buộc họ phải từ bỏ ma túy, giống như cách cô đã làm trước đó, đồng thời cố gắng dạy những người khốn khổ cách phân biệt giữa thuốc men và ma túy.
“Vậy mà cô vẫn từng có quan hệ với những kẻ buôn bán chúng.”
“À phải rồi… Oscar.” Sắc mặt cô tối sầm lại. “Anh ta nói với tôi rằng mình là một nhà thảo dược học. Mãi sau khi chúng tôi ở bên nhau, tôi mới nhận ra sự thật. /* anh ta nói thật mà nghiên cứu cỏ, trồng cỏ, bán cỏ */
Tôi đã bảo anh ta thay đổi không biết bao nhiêu lần, nhưng anh ta chẳng bao giờ chịu nghe. Đến cuối cùng, anh ta còn cố gắng ép tôi dùng thử nữa. Tôi đã lập tức tránh xa. Khi anh ta biến mất, tôi thực sự cảm thấy nhẹ nhõm.”
Cô gục đầu xuống bàn, dùng ngón tay vẽ theo đường vân gỗ một cách thẫn thờ.
“Cô đã quyết định đúng.” Nếu cô còn dây dưa với gã khốn đó, hắn ta đã hủy hoại cuộc đời cô mất rồi.
“Nhưng anh ta đẹp trai lắm. Vẻ ngoài u ám, bí ẩn. Giọng nói trầm ấm của anh ta, cách anh ta trò chuyện… khiến tôi nổi cả da gà.”
“Cô đúng là không bao giờ rút kinh nghiệm.” Tôi bật cười. “Chỉ cần cẩn thận một chút. Tôi nghe nói bọn họ vẫn đang truy lùng gã đó đấy. Nếu cô còn giữ bất cứ thứ gì hắn ta để lại, tốt nhất nên vứt đi ngay bây giờ. Tôi có thể lo liệu phần còn lại cho cô.”
“Lại chuyện đó nữa à? Tôi đã nói là mình chẳng giữ gì cả.” Cô cười. “Nếu hắn quay lại, tôi sẽ đá hắn bay ra ngoài ngay. Hơn nữa, bây giờ tôi hoàn toàn dành trọn tâm huyết cho Sterling rồi.”
“Tôi biết.” Cô ấy có gu đàn ông tệ khủng khiếp, nhưng ít ra không phải kiểu lăng nhăng. “Thôi, tôi đi đây. Khi mọi chuyện lắng xuống, cô có thể thoải mái nắm tay Sterling mà không cần phải lén lút nữa. Cố gắng chịu đựng thêm chút nữa nhé.”
Nói xong, tôi rời khỏi văn phòng. Khi bước ra ngoài, tôi khẽ thở dài.
Lại thêm một manh mối cụt. Rốt cuộc hắn đã giấu nó ở đâu? Đã gần một năm trôi qua rồi. Quá đỗi phiền phức.
“Ôi! Matthew.”
Tôi vừa rời khỏi hội quán, định tìm quán rượu nào đó để giải tỏa cơn bực tức, thì bắt gặp April. Cô bé đang ngồi bên ngoài lối vào hội quán, trông có vẻ chán chường.
“Em nhỏ làm gì ngoài này thế? Ngồi đây lâu coi chừng cảm lạnh đấy.”
“Không có đâu,” cô bé hậm hực đáp. Lại cái kiểu ngang ngạnh quen thuộc.
Tôi ngồi xuống trước mặt cô bé. “Ngồi chờ ở đây cũng không khiến thư đến nhanh hơn đâu.”
“Im đi,” cô bé gắt lên, như thể vừa bị chạm trúng tim đen. Đôi môi nhỏ nhắn của April bĩu ra đầy khó chịu.
Họ đã nói sẽ gửi thư hồi đáp ngay. Nhưng đã một tháng trôi qua rồi.
"Tại sao em không nhờ ông giúp đỡ?"
Hội Mạo Hiểm Giả có chi nhánh ở khắp nơi và luôn duy trì mối liên kết rất chặt chẽ. Chỉ cần biết người đó đang ở đâu, họ hoàn toàn có thể dùng các mối quan hệ để tìm ra câu trả lời mà April muốn. Mà một người ông yêu cháu hết mực chắc chắn sẽ đồng ý giúp đỡ.
"Ông dạo này bận lắm. Một cuộn thư bị trộm khỏi hội quán."
"Ồ, tin xấu thật."
Cuộn thư là những vật phẩm vô cùng hữu ích, có thể tạm thời phong ấn phép thuật hoặc quái vật, cho đến khi người sử dụng kích hoạt chúng để phóng ra lửa, sét, chữa lành vết thương, hoặc triệu hồi quái vật chiến đấu. Chỉ cần biết câu kích hoạt, bất kỳ ai cũng có thể sử dụng cuộn thư. Vì lý do này, chúng luôn được bảo quản vô cùng nghiêm ngặt trong hội quán. Một cuộn thư có thể đủ sức thiêu rụi cả một thị trấn nếu rơi vào tay kẻ xấu.
"Cuộn thư gì vậy?"
"Em không biết. Hình như là quái vật gì đó, nhưng chẳng ai nói cho em cả. Dù sao thì cũng không quan trọng."
Những cử chỉ sôi nổi của cô bé dần biến mất, thay vào đó là dáng vẻ rầu rĩ, ôm gối ủ rũ.
"Họ đã nói là sẽ viết thư trả lời mà"
"Này, đừng nóng vội." Tôi đặt tay lên vai cô bé. "Có lẽ cậu ấy đang suy nghĩ kỹ về những gì muốn viết, rồi ngày tháng cứ thế trôi qua. Điều quan trọng nhất là sức khỏe của em. Khi nhận được bức thư quý giá đó, em có muốn đọc nó trong khi đang nằm bẹp trên giường, sốt cao và nước mũi chảy đầy lên tờ giấy không?"
Tôi lấy ra một viên kẹo màu vàng nhạt và đưa cho cô bé.
"Viên này có gừng bên trong. Nó sẽ giúp em ấm lên đấy. Ngậm vào rồi về nhà đi."
"Ôi, im đi," cô bé lầu bầu, nhưng lần này giọng điệu đã tươi sáng hơn.
Đó là một dấu hiệu tốt.
"Nghe này, nhóc con. Khi bức thư đó tới, cho anh đọc chung với nhé."
"Đừng có gọi em là nhóc con!" cô bé gào lên, bật dậy khỏi chỗ ngồi.
"Được rồi, anh phải đi đây. Mau về nhà đi."
"Matthew," cô bé gọi khi tôi vừa bước được vài bước. Tôi dừng lại và quay đầu lại.
"Cảm ơn anh."
"Không có gì đâu. Em cũng thế nhé."
Tâm trạng tôi cũng trở nên tốt hơn. Tôi vẫy tay chào April rồi đi về nhà.
Không uống rượu lần này. Tôi cần nghĩ xem nên làm gì cho bữa tối.
“Vấn đề về tiền giả đã được giải quyết. Đó là do một nhóm tội phạm có tên là White Monkeys” Arwin báo cáo khi cô ấy trở về nhà vào tối hôm sau. Dĩ nhiên, tôi đã biết toàn bộ câu chuyện, nhưng vẫn giả vờ ngạc nhiên.
Sau bữa tối, chúng tôi ngồi lại bên bàn và nhâm nhi chút rượu.
“Chuyện của gã họa sĩ đó thế nào rồi?” Arwin hỏi, nâng ly rượu lên môi.
“À, chẳng có gì to tát.”
Tôi giải thích rằng Sterling còn một người phụ nữ khác mà hắn đang vòi tiền. Điều đó không phải là nói dối; thực tế, hắn ta đã lừa dối Vanessa và nhận tiền từ người phụ nữ kia, dù không nhiều bằng số tiền kiếm được từ vụ làm tiền giả.
“Vậy là cô ấy sẽ bắt hắn cắt đứt với người phụ nữ kia và không cho phép hắn đi nhặt nhạnh đồ trong hầm ngục nữa. Cô ấy dự định sẽ chu cấp cho hắn để hắn có thể sống bằng nghề vẽ tranh.”
Tất nhiên, sự hỗ trợ của cô ấy không chỉ giới hạn ở tiền bạc. Cô ấy sẽ nổi giận, đe dọa, dạy dỗ, và thậm chí đánh đòn hắn cho đến khi hắn chịu vẽ tranh đều đặn. Đó chính xác là điều mà một kẻ được nuông chiều, ăn bám như hắn cần.
“Thật kỳ lạ khi một người phụ nữ lý trí như cô ấy lại yêu một gã như thế.”
“Đó gần như là sở thích của cô ấy rồi,” tôi nói. Vanessa có một bản năng tự nhiên là chăm sóc và nuôi dưỡng những kẻ vô dụng khi nhìn thấy họ. “Nhưng dù người khác nghĩ gì đi nữa, miễn là hai người họ hạnh phúc, thì có gì quan trọng chứ? Đó không phải là chuyện của chúng ta.”
“Vậy thì,” Arwin đặt ly rượu xuống bàn, “người khác nhìn chúng ta thế nào?”
“……”
Trong mắt kẻ ngoài cuộc, tôi và Arwin là một quý cô với cậu trai bao của nàng ấy. Một mối quan hệ tội lỗi, không phù hợp, suy đồi—không xứng đáng với một người có địa vị cao. Nhưng giữa chúng tôi, mọi chuyện phức tạp hơn thế.
Chủ nhân và đầy tớ, thú cưng và người chủ, giáo viên và học trò, bác sĩ và bệnh nhân, ác quỷ và kẻ ký khế ước, tất cả đều đúng theo một cách nào đó, nhưng không cái nào thực sự phù hợp. Nếu tôi buộc phải đặt một cái tên cho mối quan hệ này, tôi sẽ gọi chúng tôi là đồng phạm.
Khi tôi không trả lời, Arwin tựa má lên bàn. Thoáng chốc tôi tưởng cô ấy sắp gục xuống, nhưng đây mới chỉ là ly rượu đầu tiên của cô ấy. Và cô ấy uống rất giỏi.
Tôi cố liếc nhìn khuôn mặt cô ấy, nhưng mái tóc mái che khuất đôi mắt.
“Thật là bất lịch sự.” Tôi vươn tay gạt mái tóc đỏ của cô ấy sang một bên. Đôi mắt cô ấy ươn ướt vì thất vọng.
“Ta không quan tâm. Dù sao ta cũng là một người đàn bà tai tiếng.” Cô ấy lầm bầm.
Đột nhiên, tôi hiểu ra vấn đề. Tôi đi đến thùng rác ở góc phòng và lấy ra một bức thư. Đó là một phong bì xa lạ nhưng trông cực kỳ sang trọng. Thậm chí còn có cả con dấu sáp. Tôi đã biết rõ nội dung bên trong, nên chỉ vo tròn nó lại và ném đi.
“Nếu đã biết trước nó sẽ khiến Ngài khó chịu, tại sao lại đọc nó?” Nội dung của bức thư quá rõ ràng.
Các hoàng thân và quý tộc của vương quốc Mactarode đã sụp đổ giờ đây tản mát khắp lục địa, sống ẩn dật trong bóng tối. Với họ, Arwin là niềm hy vọng cuối cùng để phục hưng vương quốc và giành lại quyền lực. Nhưng cô ấy chẳng những đã lăn lộn trong hầm ngục suốt một năm trời mà chẳng đạt được gì, lại còn sống chung với một gã đàn ông đáng ngờ. Rõ ràng, tôi chỉ là một kẻ tầm thường bị cuốn hút bởi sắc đẹp và tài sản của cô ấy.
Thế nên thỉnh thoảng, cô ấy lại nhận được những lá thư trách móc từ những kẻ yêu cầu cô phải tỉnh ngộ, ngừng sa ngã, và quay về với sứ mệnh cao quý của mình. Mấy kẻ đó thật rảnh rỗi.
“Họ muốn Ta chia tay với Ngươi.”
“Mặc kệ họ.”
Bọn họ không đủ can đảm để đích thân đến Gray Neighbor thuyết phục cô ấy. Họ chỉ ngồi đó và viết thư mỗi khi chúng tôi dần quên đi sự tồn tại của họ. Dành bất cứ chút tâm trí nào để suy nghĩ về đám vô dụng ấy cũng chỉ là phí phạm thời gian. Khi Arwin yếu đuối nhất, họ có làm gì để giúp cô ấy đâu?
“Bọn họ chỉ đang trút giận bằng cách đổ lỗi cho Ngài về những bất hạnh của họ. Chẳng có lý do gì để bận tâm cả.”
“Ngươi là một tên lăng nhăng bỉ ổi, một vết nhơ thảm hại của đám đàn ông,” Nàng lẩm bẩm, rồi liếc nhìn tôi. “Ta đồng ý với họ.”
“Tôi sẽ gọi luật sư ngay bây giờ.” Tôi định đòi bồi thường danh dự.
“Nhưng Ta cần ngươi lúc này. Nếu không có ngươi, Ta đã chìm nghỉm dưới đáy biển rồi. Ngươi là phao cứu sinh của ta.”
“……”
“Matthew.”
Arwin đưa tay ra, đầu vẫn tựa trên bàn. Trông nàng như đang bám vào mép vực thẳm. Tôi vòng qua bàn và nắm lấy tay nàng.
“Đừng lo, thưa Ngài.”
Ai cũng có những lúc đau khổ và hoài nghi. Tôi không thể có mặt trong hầm ngục để giúp nàng chiến đấu. Tôi chỉ là gánh nặng và sẽ chết mất. Chính vì vậy, tôi muốn ở đây, để nâng đỡ nàng khi có thể.
“Chừng nào Ngài còn cần tôi, tôi sẽ không bao giờ buông tay.” Tôi siết chặt tay nàng. “Tôi đã nói rồi. Tôi là người đàn ông được Ngài bao nuôi.”
Đôi môi nàng mấp máy. Nàng gọi tên tôi trong lặng thinh. Sự mong manh ấy, nỗi bi thương tinh tế ấy, lấp đầy trái tim tôi bằng sự dịu dàng.
“Vậy nên,” tôi cười toe toét, “tôi vừa nảy ra một ý tưởng điên rồ rằng có lẽ nên tăng tiền trợ cấp của tôi một chút.” /* tư bản quá rồi, vừa liem được 5 giây đã chuyển sang liếm */
Arwin nở một nụ cười rạng rỡ rồi véo mạnh mu bàn tay tôi.
Khoảng một tuần sau, những kẻ còn lại trong băng Bạch Hầu hoặc đã bỏ trốn, hoặc đã bị bắt, vậy nên Vanessa và tôi đến đón Sterling.
“Anh đến muộn quá, Matthew!” Hắn mếu máo ngay khi tôi bước vào cửa. Rõ ràng, hắn không thích khoảng thời gian ở với Dez chút nào. “Chẳng phải đã đủ lâu rồi sao? Đi uống một chầu đi.”
“Đã vậy rồi à?”
“Có gì không ổn chứ?” Hắn bám lấy cánh tay tôi như một tình nhân đang nài nỉ mua quần áo.
“Làm ơn, Matthew,” Vanessa cũng góp lời. “Hắn đã bị nhốt trong này suốt quãng thời gian qua. Nếu cứ thế này, hắn sẽ mọc rễ trong này mất. Hắn cần thay đổi không khí.”
Cô ấy có vẻ hơi quá rộng lượng, theo ý kiến của tôi. Nhưng tôi cũng chẳng bận tâm. Cuối cùng, tôi chấp nhận yêu cầu trông chừng Sterling một chút. Dù sao thì cô ấy cũng đã đưa tiền để tôi lo cho hắn, nên đến lúc đó, tôi chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc đồng ý.
"Đi nào! Đi quán khác đi!"
Sterling đã say khướt chỉ sau quán đầu tiên. Hắn tự dội lên mình toàn rượu rẻ tiền đến mức loạng choạng trên chân và phải bám vào tôi để không ngã. Người ta nhìn vào chắc nghĩ chúng tôi là tình nhân mất.
"Không thể tự đi được à?"
Trước đây, tôi chẳng thèm chớp mắt nếu phải lôi theo một tên gầy gò như hắn. Nhưng bây giờ bản thân tôi cũng yếu rồi, nên chuyện đó trở nên gần như bất khả thi.
"Giờ đi đâu đây? Nói tôi nghe nào," hắn lè nhè đầy phấn khích. Rõ ràng là hắn đã thèm rượu suốt cả tuần qua.
"Đừng lo. Chúng ta đi gặp một người bạn cũ."
"Oooh… Tôi tò mò quá đây."
Chúng tôi băng qua khu vui chơi về đêm và tiến đến trung tâm thành phố.
"Tới rồi đây," tôi tuyên bố.
Sterling đứng chết lặng, nhìn chằm chằm vào tòa nhà trước mặt.
"Đây… đây là… Hội… Mạo Hiểm Giả."
"Đúng vậy," tôi nói, vòng qua hắn để mở cửa và giới thiệu hắn với người bạn cũ. "Yo, Dez."
Tôi đã xác nhận với vợ hắn rằng tối nay hắn sẽ ngủ lại hội. Chắc giờ này Dez đã ngủ rồi. Tôi đẩy Sterling vào vòng tay của gã râu rậm trông đầy khó chịu.
"Xin lỗi, anh trông chừng thằng nhóc này thêm một đêm nữa được không?"
"Đây không phải là quán trọ."
"Tôi biết. Chính vì thế tôi mới đưa hắn tới đây."
Arwin đã kiệt sức sau trận chiến, còn chuyện này vốn là của tôi phải giải quyết. Nên trong trường hợp này, làm phiền Dez một chút cũng không sao cả. Dù sao thì tôi cũng đã giúp hắn gỡ bỏ nghi ngờ liên quan đến vụ làm tiền giả, hơn nữa chúng tôi còn là bạn cũ.
"Làm ơn. Chỉ một đêm thôi," tôi nói.
Dez chậc lưỡi. "Thêm một chai whiskey."
"Vẫn là Dez mà tôi biết. Yêu ông quá."
"Cút khỏi đây trước khi tôi xé lưỡi cậu ra."
"Biết rồi, biết rồi." Nếu tôi nấn ná lâu hơn, có khi ông ta sẽ làm thật.
"Khoan đã, Matthew! Anh định đi đâu?" Sterling rên rỉ.
"Tôi hết nhiệm vụ trông trẻ rồi. Từ giờ anh tự mà uống đi."
"Không! Đừng bỏ tôi lại đây!" Sterling nức nở van nài, trông vô cùng thảm hại khi bị cuốn vào một khu rừng râu rậm rạp của người lùn. Nhưng rồi, vị vua râu ác nghiệt ấy từ trong rừng râu trỗi dậy, tóm lấy cổ Sterling và ném hắn thẳng vào trong phòng.
Tôi lặng lẽ đóng cửa lại, cắt đứt những âm thanh hỗn loạn đang vang lên bên trong. Giờ này mà còn ồn ào như vậy thì thật quá muộn rồi.
Trẻ con vốn nên ngủ vào giờ này. Đám Khỉ Trắng liên quan đến vụ làm tiền giả hầu hết đã bị bắt, nhưng vẫn còn một tên bạo lực chưa sa lưới. Và những đứa trẻ nghịch ngợm lang thang ngoài đường vào lúc nửa đêm thế này chắc chắn sẽ trở thành con mồi ngon cho con hổ lớn đáng sợ ngoài kia.
Tôi rời khỏi khuôn viên hội.
Lúc này đã qua nửa đêm, chẳng mấy chốc bầu trời sẽ bắt đầu ửng sáng. Thành phố vẫn chìm trong giấc ngủ say. Chỉ có rất ít cửa hàng còn mở cửa. Những kẻ uống rượu đến tận bình minh chỉ có thể là mạo hiểm giả, những người muốn quên đi quá khứ, hoặc những con sâu rượu mà não bộ đã bị ngâm đến nhũn ra rồi. Bước chân tôi vang lên khô khốc trên những con phố vắng lặng.
Vừa rẽ qua một góc phố, tôi còn đang băn khoăn không biết nên giết thời gian ở đâu tiếp thì chợt nghe thấy tiếng bước chân nhanh đuổi theo phía sau. Bản năng mách bảo tôi lao ngay sang bên đường.
Chỉ trong tích tắc, tôi cảm thấy một vật thể lao vụt qua mình, rồi nghe thấy tiếng đá vỡ vụn. Ngay phía trên đầu tôi, một lỗ hổng lớn đã xuất hiện trên bức tường.
"Hơi vội vàng quá rồi đấy, có phải không?" Tôi lên tiếng khi một gã đàn ông vạm vỡ rút nắm đấm ra khỏi bức tường và bực bội tặc lưỡi. Bên mắt trái của hắn có một vết sẹo sâu do lưỡi kiếm để lại.
"Không, đây là lúc thích hợp rồi. Tao sẽ giết mày và thằng nhóc đó."
Terry của băng Tiger Hand - Tay Hổ vung tay, tiến đến với ánh mắt đầy sát khí.
"Mày nhầm to rồi." Tôi đáp. Hắn thực sự đã lần ra được dấu vết của tôi sao?
Tôi lén đưa tay ra sau lưng trong lúc rút lui.
"Cảnh của mày chưa đến đâu. Phải đợi thêm trăm năm nữa mới tới lượt diễn của ngươi cơ."
Tôi chộp lấy vài mảnh đá vỡ dưới đất và ném về phía hắn. Terry dễ dàng né tránh, nhưng tôi đã quay người bỏ chạy.
Tôi quẹo một góc, dốc hết sức chạy thật nhanh, nhưng vẫn cảm nhận được sự hiện diện như rắn độc bám đuổi ngay sau. Tôi đá đổ một đống rác chắn đường, rồi vô tình hất ngã một gã say đang nằm ngủ trên vỉa hè. Nhưng khoảng cách giữa tôi và hắn chẳng hề giãn ra. Thậm chí, hắn còn đang rút ngắn nó.
Sau một loạt những cú rẽ ngoặt ngoèo, tôi lao vào một nhà thờ.
Không ai có thể nhìn thấy tôi ở đây. Tôi rút quả cầu Mặt trời tạm thời ra khỏi túi. Thứ này lưu trữ ánh sáng mặt trời thuần khiết bên trong. Vì vậy, khi nó chiếu sáng lên tôi, về lý thuyết, tôi có thể sử dụng lại sức mạnh ban đầu của mình, ngay cả vào ban đêm. Đây là lần đầu tiên tôi sử dụng nó thực sự. Cũng là một cơ hội tốt để thử nghiệm.
Ngay khi tôi định kích hoạt nó, tôi chợt nghe thấy tiếng gió rít mạnh bên cạnh. Tôi cố tránh nhưng không kịp. Một con dao phóng lóe lên ánh bạc, va vào tường rồi biến mất vào góc tối, trong khi Mặt trời tạm thời lăn đi vào bóng đen của nhà nguyện.
Đứng trước cửa nhà thờ, Terry nhe răng cười mãn nguyện.
"Giờ thì mày tiêu thật rồi, nhóc." Giọng hắn đầy đe dọa.
Vừa hay, tôi cũng định nện cho hắn một trận tơi bời. Nhưng có vẻ phải thay đổi kế hoạch thôi.
Thay vào đó, tôi lao qua nhà nguyện, xông vào cánh cửa nhỏ ở phía sau rồi bắt đầu chạy lên cầu thang dẫn đến tháp chuông. Tôi cố nhảy hai bậc một lần, nhưng cầu thang xoắn ốc chật chội khiến tốc độ của tôi vẫn bị kìm hãm. Với những vòng xoáy liên tục, tôi có cảm giác như mình đang bị tiêu hóa trong ruột của một gã khổng lồ nào đó. Phổi và chân tôi ngày càng nặng trĩu.
Tiếng gió xé toạc không gian một lần nữa. Tôi chỉ vừa kịp tránh con dao bay sượt qua bên mình. Lưỡi dao cắm phập vào một bậc thang bằng đá rồi nảy ra, trượt xuống dưới. Ngay phía dưới tôi, một tiếng rủa tức tối vang lên. Suýt chút nữa thì toi rồi. Nhưng vì phải né đòn, hắn đã áp sát tôi hơn nữa.
Gần tới rồi.
Ngay trước mặt tôi, một cánh cửa gỗ cũ kỹ hiện ra trên đỉnh cầu thang. Cuối cùng!
Tôi không thèm giảm tốc độ. Tôi dồn hết sức lao thẳng vào cửa. May thay, dù trong tình trạng suy yếu, tôi vẫn đủ lực để phá tung nó.
Tôi loạng choạng bước vào căn phòng nhỏ hình vuông. Có hai ô cửa sổ ở phía đông và tây, với những thanh gỗ mỏng để ánh sáng len lỏi vào. Trên trần nhà, một quả chuông nhỏ, chỉ cỡ bằng đầu tôi, đang treo lủng lẳng.
Trước đây, từng có một quả chuông lớn hơn nhiều, nhưng một kẻ dị giáo nào đó đã cuỗm mất từ lâu.
Terry bước vào phòng đúng lúc tôi vừa chống tay đứng dậy. Hắn nắn lại khớp ngón tay, đôi mắt lướt qua căn phòng một lượt.
"Chọn nhà thờ làm nơi chết, đúng là thê thảm thật đấy."
"Nếu anh bạn nói vậy." Tôi đứng dậy, phủi bụi khỏi quần áo. "Một chiếc giường tán mềm mại với vài cái gối sẽ làm nơi này thêm hoàn hảo. Anh bạn có thể mua giúp tôi được không? Tốt nhất là có dịch vụ giao tận nơi."
"Cái giường duy nhất mày cần là quan tài." Terry nghiêng người, siết chặt nắm đấm. "Nhưng trong cái thành phố này, chỉ có bọn nhà giàu mới được vinh dự đó, đúng không?"
"Thật đáng buồn."
Kẻ nghèo khi chết đi chỉ bị quẳng vào bóng tối sâu thẳm của hầm ngục. Không bia mộ, không ai tưởng nhớ.
"Và số phận của mày cũng sẽ chẳng khác gì."
Terry lao tới như cơn lốc. Hắn lướt đi một cách trơn tru, vung nắm đấm – chính cánh tay đó đã từng đấm xuyên cả tường đá. Tôi chỉ kịp thấy một tia sáng cong vút trước khi một cơn chấn động nện thẳng vào sườn trái. Hơi thở nghẹn lại trong lồng ngực, tôi bật lùi về sau với một tiếng rên. Nhưng không có thời gian để nghỉ ngơi – Terry lại lao đến với nụ cười nham hiểm.
Lần này cũng là đòn đánh vào bên trái. Tôi vội hạ khuỷu tay xuống chắn đòn, nhưng cú đấm quỷ quái của hắn lại lượn vòng như một cây roi, đổi hướng giữa chừng rồi giáng thẳng vào bụng tôi. Cơn đau nhói lên, tôi gập người lại. Trong tích tắc, một bóng đen vút về phía má trái tôi. Lúc nhận ra đó là một cú đá, thì tôi đã bị đá văng sang một bên, mặt đập mạnh vào tường.
Đau thật đấy.
Tôi đã có thể bỏ mặc tất cả mà ngủ quên cho đến sáng, nhưng hắn không để tôi yên.
Bóng tối lại phủ chụp lên tôi. Bản năng nhanh hơn suy nghĩ, tôi lộn người ra khỏi đường tấn công. Ngay sau đó, những mảnh đá vụn văng trúng lưng tôi, theo sau là một âm thanh nứt vỡ ngay gần chỗ tôi vừa đứng.
"Gan lỳ thật." Terry lẩm bẩm. Dù là giữa đêm, tôi vẫn thấy được vẻ bối rối thoáng qua trên khuôn mặt hắn. "Tao đã giết không ít người, nhưng đánh mày chẳng giống đánh con người chút nào. Không phải do mày được huấn luyện tốt, mà là như thể tao đang đấm vào một con quái thú vậy."
"Buồn cười thật, mày bao biện cho sự yếu kém của mình bằng cách gọi tao là quái vật. Mày nên lên núi tu luyện vài năm đi, nhóc." Tôi nhếch môi.
"Tao sẽ suy nghĩ... sau khi giết mày."
Terry thở ra một hơi dài rồi bất thần lao tới, tung một cú đá vòng cầu cực mạnh. Tôi vội nâng tay lên đỡ, cảm nhận cơn chấn động rung bần bật đến tận xương tủy. Lưng tôi đập mạnh vào tường, nhưng hắn chưa dừng lại. Giữa không trung, hắn xoay người, tung thêm một cú đá xoáy thẳng vào trán tôi.
Cơ thể tôi trượt xuống bức tường, như một chiếc giẻ lau quệt qua vết nước tiểu.
Tôi chưa kịp thở dốc thì ngay lập tức, mũi giày Terry giáng thẳng xuống sau đầu tôi.
"Vẫn còn hứng đùa cợt chứ, thằng lẻo mép?"
"Này, đại ca," tôi rên rỉ, mặt áp sát nền đá lạnh. "Tôi cũng không biết có nên nói không, nhưng thôi, thành thật vẫn hơn. Chân anh vừa giẫm phải phân mèo đấy. Sao tôi biết là phân mèo mà không phải phân chó à? Mùi nó khác nhau. Phân mèo hôi hơn nhiều."
Chiếc ủng nghiền mạnh xuống.
"Đó là những lời cuối cùng của mày?"
"Còn anh trai thì sao?"
"Gì?"
"Mày tưởng tao chạy lên đây là để trốn sao? Nhầm rồi. Tao đã dồn mày vào đường cùng."
Tôi vươn tay mở tung cửa sổ.
Một luồng sáng rực rỡ lập tức tràn ngập căn phòng nhỏ. Mặt trời vừa nhô lên từ đường chân trời phía đông. Terry theo phản xạ giơ tay che mắt, vô thức lùi lại. Tôi đứng thẳng dậy, phủi sạch bụi bẩn trên mặt, để ánh sáng ban mai tắm lên lưng mình.
"Người nghèo không có bia mộ thì cũng chẳng có văn bia. Vậy để tao viết lên mông mày nhé: 'Nơi đây yên nghỉ kẻ từng giẫm phải phân mèo'."
"Câm mồm, đồ khốn nạn!"
Terry cố lượn ra ngoài vùng sáng để tung một đòn tấn công. Hắn lao lên, vung nắm đấm – nhưng khi nó va vào tay tôi, một tiếng thét xé toạc không gian. Hắn trợn trừng nhìn bàn tay nhuốm máu của mình, không thể tin vào mắt mình.
"Chuyện quái gì vậy? Không thể nào… với tao…"
Một khi đứng dưới ánh mặt trời, tôi lấy lại sức mạnh vốn có. Dù nắm đấm của hắn có được rèn luyện đến đâu, cũng chẳng thể sánh được.
"Đừng đổ lỗi cho kẻ khác chỉ vì bản thân quá yếu kém."
"Khốn kiếp!"
Hắn lại tung một cú đá vòng cầu. Tôi chộp lấy cổ chân hắn, siết chặt.
Tiếng xương răng rắc vang lên rợn người.
Tôi buông tay, và Terry đổ gục xuống sàn, ôm lấy cổ chân vặn vẹo của mình – giờ đây chỉ còn bằng một nửa kích thước ban đầu.
"Ui chà, bong gân rồi à?"
"Mày… con chuột cống khốn kiếp…"
Hắn vung chân còn lành lặn lên đá cảnh cáo, cố giữ tôi ở khoảng cách an toàn. Nhưng với tư thế ngồi, cú đá của hắn chẳng hề có chút sức mạnh nào. Bàn chân và ống chân tôi thậm chí không cảm thấy gì.
"Xong chưa?"
Tôi giẫm mạnh xuống chân còn lại của Terry. Tiếng xương vỡ vụn vang lên cùng với tiếng nứt của sàn đá. Hắn rú lên thảm thiết, đôi mắt ngập tràn nước mắt, chẳng khác gì một đứa trẻ vừa vấp ngã trầy đầu gối.
"T-tôi hứa, tôi thề sẽ không đụng đến hắn nữa. Tôi sẽ rời khỏi thị trấn này. Chỉ cần đừng—"
"Tao có một câu hỏi." Tôi cúi xuống, nhìn chằm chằm vào đôi mắt tuyệt vọng của Terry. "Có phải mày quản lý nguồn cung thuốc không?"
"P-phải, đúng vậy!" Hắn vội vã gật đầu, ánh mắt lóe lên tia hy vọng. "Gần đây hàng hiếm nên giá mới tăng. Anh có thể lấy hết, chỉ cần tha cho tôi"
"Còn Release?"
"Phải, tôi cũng nắm Release. Dạo này khó kiếm, nhưng chỉ cần tôi lên tiếng, hàng sẽ về ngay..."
"Ra vậy." Tôi siết chặt nắm đấm.
"Không—!"
Hắn vội vàng giơ hai tay lên che mặt. Nhưng chút kháng cự ấy chỉ như cát bụi trước bão.
Nắm đấm tôi đập thẳng xuống, nghiền nát đầu hắn giữa bức tường và đôi tay gãy vụn. Cơ thể hắn đổ gục như một con rối bị cắt dây, xương tay cắm sâu vào mặt. Tôi kiểm tra lại, xác nhận hắn thực sự đã chết.
"Lại thêm một xác phải xử lý."
Chỉ nghĩ đến việc lại phải trả tiền cho Gã Đào Mộ đã khiến đầu tôi đau nhức.
Dưới phố, người ta đã bắt đầu hoạt động. Còn quá sớm để ai cũng thức dậy thế này. Ánh mặt trời chói chang đâm thẳng vào mắt tôi. Cả ngày tôi vẫn mong mỏi mặt trời, nhưng giờ đây, tôi lại ghét cay ghét đắng nó.
Tôi lẩn vào một con hẻm nhỏ, lưng còng xuống. Bóng tối vẫn còn bám trụ nơi đây.
Arwin còn giận không nhỉ? Có lẽ tôi nên nghĩ ra một cái cớ hợp lý cho chuyện về nhà vào buổi sáng thế này.
Đúng lúc đó—
Một thanh kim loại bổ xuống từ trên cao: một cây chùy.
Tầm nhìn tôi quay cuồng. Mãi đến khi đã ngã xuống đất, tôi mới nhận ra mình vừa bị đánh trúng.
Hắn còn đồng bọn quanh đây sao? Không ổn rồi. Tôi cần phải trở lại dưới ánh mặt trời. Mình đã quá bất cẩn.
Ôm lấy đầu, tôi khẽ mở mắt và bắt gặp một bóng hình quen thuộc đang ngồi chễm chệ trên người mình.
Cô ta có mái tóc cắt ngắn, làn da rám nắng lấm tấm tàn nhang. Dáng vẻ có khác so với một năm trước, nhưng tôi không thể nào nhận nhầm được. Trong đôi mắt ấy đan xen cả yêu thương lẫn thù hận.
"Tôi đã mong được gặp anh lắm, Matthew."
Polly nở một nụ cười đầy thích thú—rồi vung cây chùy xuống một lần nữa.
0 bình luận